vanban.org

Bản án 17/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai Tuyên án 17/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Đinh Quang Q, Nguyễn Thị H, Hoàng Văn Đ Đinh Quang Đ1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y” và phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 7 (Bẩy) năm 6 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y” và xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 6 (Sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y”. Tổng h p hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 13 (Mười ba) năm 6 (Sáu) tháng t…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐINH QUANG Q và ĐP - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Đinh Quang Q, Nguyễn Thị H, Hoàng Văn Đ Đinh Quang Đ1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y” và phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y”.
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ SA PA-TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2022/HSST
Ngày 17/5/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SA PA

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Hà.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Trọng Bằng và ông Nguyễn Văn Tuấn.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Tùng-Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai.

Đ diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa tham gia phiên tòa: Ông Lã Chúc Cương-Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2022/HSST ngày 28 tháng 02 năm 2022 theo Q định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2022, Q định hoãn phiên tòa số: 17/2022/QĐT-HS ngày 12 tháng 4 năm 2022, Q định hoãn phiên tòa số: 18/2022/QĐT-HS ngày 21 tháng 4 năm 2022 và Q định hoãn phiên tòa số: 19/2022/QĐT-HS ngày 6 tháng 5 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Đinh Quang Q, sinh ngày 02 tháng 9 năm 19xx, tại huyện Th, tỉnh Bắc Ninh; ĐKHKTT: Thôn Ấ, thị trấn H, huyện Th, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Quang Th, sinh năm 1966 (Đã chết) và bà Đào Thị T, sinh năm 1968, tr tại thôn Ấ, thị trấn H, huyện Th, tỉnh Bắc Ninh; bị cáo c v chị Trần Thị Mai L, sinh năm 1998 và c 01 con sinh năm 2021; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17 tháng 11 năm 2021, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai. C m t.

2. Nguyễn Thị H, sinh ngày 13 tháng 6 năm 20xx, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; ĐKHKTT: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết Tr, sinh năm 1979 và bà Lâm Thị M, sinh năm 1979, tr tại thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; bị cáo chưa c chồng; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17 tháng 11 năm 2021, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã Sa Pa. C m t.

3. Hoàng Văn Đ, sinh ngày 25 tháng 5 năm 19xx, tại huyện Th, tỉnh Bắc Ninh; ĐKHKTT: Thôn Ấ, thị trấn H, huyện Th, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn C, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1974, tr tại thôn Â, thị trấn H, huyện Th, tỉnh Bắc Ninh; bị cáo chưa c v ; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17 tháng 11 năm 2021, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai. C m t.

4. Đinh Quang Đ1, sinh ngày 04 tháng 10 năm 19xx, tại huyện Th, tỉnh Bắc Ninh; ĐKHKTT: Thôn Ấ, thị trấn H, huyện Th, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Quang V, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1969, tr tại thị trấn H, huyện Thuận Th, tỉnh Bắc Ninh; bị cáo c v là Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1996 và c 01 con sinh năm 2014. Tr tại thị trấn H, huyện Th, tỉnh Bắc Ninh; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17 tháng 11 năm 2021, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai. C m t.

Người làm chứng: Chị Trần Thùy L, sinh năm 19xx. Vắng m t.

Địa chỉ: Thôn 3, Mỏ Ng, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

- Chị Nguyễn Thị Trà M, sinh năm 20xx. Vắng m t.

Địa chỉ: Tổ 04, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

- Anh Thào Tu, sinh năm 19xx. Vắng m t.

Địa chỉ: Tổ 01, phường C, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c t m tắt như sau:

Tối ngày 14 tháng 11 năm 2021, Đinh Quang Q, Đinh Quang Đ1, Hoàng Văn Đ, Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị T cùng nhau ăn uống tại quán “Trâu ngon” thị trấn L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Trong khi ăn, Q rủ mọi người ngày 15 tháng 11 năm 2021 lên Sa Pa du lịch, thăm người yêu của Q là Nguyễn Thị Trà M và n i “Lần này mang đồ ở nhà lên đấy chơi”, tất cả đều hiểu “chơi” ở đây c nghĩa là đi bay lắc, sử dụng ma túy, mọi người đồng ý, Q nói với H mua ma tuý nhưng H không đồng ý. Sau bữa ăn tối, Q và Đ cùng đi về huyện Th, Q nói với Đ “Mai bảo H mua ba mươi viên kẹo và một uốn ke nhé”. Đ n i “Lấy hai mươi viên thôi ba mươi viên nhiều quá”, Q đồng ý và hẹn Đ sáng hôm sau cùng đi. Khoảng 08 giờ ngày 15 tháng 11 năm 2021, Đ đi taxi đến đ n H, rồi cùng đi đ n T ở phòng trọ tại thành phố T nhưng T không có ở phòng, Q gọi điện thoại cho Đ bảo H mua 20 viên kẹo và 01 uốn Ketamine. H đang ngồi cạnh Đ nên trả lời Q “Em không cầm đâu, s lắm”. Q đáp “Cứ gọi đi rồi mang sang đây anh cầm mà, không phải lo”, H đồng ý và gọi điện cho một người là “Chị H1” hỏi mua ma tuý mang đến phòng trọ của T. Người này đồng ý thông báo số tiền là 31.200.000 đồng (Ba mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng) rồi nhắn tin số tài khoản ngân hàng của người tên H1 cho H. H nhắn tin cho Q số tài khoản, số tiền phải thanh toán. Một l c sau, c 01 người đàn ông lạ m t đến đưa cho H 01 bịch khẩu trang bên trong chứa ma tuý (Đ và H đều biết trong bịch khẩu trang đ là số ma túy Q bảo H mua), khi T về thì 03 người đi taxi đến nơi Q và Đ1 đứng đ i. Trên đường lên Hà Nội, H đưa Đ cầm bịch khẩu trang bên trong c ma t y và n i “Anh đưa cho anh Q đi”. Khoảng 12 giờ, tại thành phố Hà Nội, sau khi ăn trưa xong Đ đưa bịch khẩu trang chứa ma t y cho Đ1 (L c này Đ1 không biết bên trong bịch khẩu trang có chứa ma tuý). Đến khoảng 13 giờ 30 phút cả nhóm đ n xe khách đến khoảng 20 giờ có m t tại thị xã Sa Pa, đến Khách sạn B thuộc tổ 07, phường S, thị xã S thuê 03 phòng đư c một lúc thì M đến, Đ1 và T ở phòng 624, Q và M ở phòng 626, Đ và H ở phòng 628. Một l c sau thì Đ sang phòng 624 và hỏi Đ1 “Bịch khẩu trang l c trưa em đưa cho anh đâu”, Đ1 lấy bịch khẩu trang đưa cho Đ thì Đ n i “Em để đồ trong này mà” (Cả Đ và Đ1 đều hiểu “Đồ” c nghĩa là ma tuý). L c này, Đ1 biết trong bịch khẩu trang mà Đ đưa c ma tuý. Đ lấy ra xem thấy bên trong có chứa 01 gói nilon, bên trong đựng ma túy Ketamine và 01 gói nilon bên trong có chứa 20 viên ma tuý, Đ1 n i “Nhiều thế này à”, Đ đưa g i ma tuý cho Đ1 rồi sang phòng số 626, Đ1 cất gói ma tuý vào ngăn tủ rồi cùng Đ sang phòng Q thì Q hỏi “Đồ ở đâu?”, Đ1 đáp “Đây” rồi quay về phòng lấy gói ma tuý cầm sang phòng Q có m t Đ, Q, M, H thì Đ1 b c bịch khẩu trang bên trong chứa ma tuý đưa cho mọi người xem, sau đ Q n i “Thôi cất về phòng mày ý”, Đ1 cất ma tuý vào bịch khẩu trang và đem về phòng của mình cất trong ngăn tủ.

Sáng ngày 16 tháng 11 năm 2021, Q rủ mọi người đi chơi (cả sáu người đều hiểu là Q muốn rủ mọi người đi bay lắc, sử dụng ma túy và mọi người cùng đồng ý). Đ1 và Q về phòng 624 lấy ma tuý, Q bảo Đ1 chia nhỏ gói ma tuý lấy 01 tờ giấy gói 06 viên ma tuý tổng h p và Q rút vỏ nilon ngoài bao thuốc lá để Đ1 đổ Ketamine vào để mang đi và cất số ma tuý còn lại vào 01 hộp giấy màu trắng hình hộp chữ nhật bỏ vào ba lô của Đ1. Cả 06 người đi xe điện, Q nhờ lái xe chở đi thuê loa, Q và Đ thuê loa của anh Lê Tiến Đ2. Tại Khách sạn K phòng thuê số 1214, Đ1 lấy g i ma t y ra để lên trên bàn trong phòng, Q thuê của anh Tô Văn H1 03 đèn nháy. Sau đ , Đ, Đ1, Q bật đèn nháy kết nối Bluetooth điện thoại với loa và bật nhạc. Q hỏi “đồ để đâu”, Đ1 lấy gói ma tuý ở trên bàn bảo mọi người chơi Q, Đ1, Đ, M và T sử dụng. H gọi lễ tân mư n đĩa sứ nhưng Đ1 đi xuống lễ tân mư n 01 đĩa sứ cầm lên để trên bàn. H “xào ke” (Ketamine), Q lấy 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) cuộn thành ống hút và cố định hai đầu bằng đầu lọc thuốc lá. H đổ Ketamine ra đĩa rồi dùng chiếc thẻ card để “xào”, chia Ketamine thành 05 đường thẳng, H dùng ống hút hít 02, Đ h t 03 rồi kẻ tiếp 06 đường đưa cho Q h t 03 đường rồi Q đưa cho M h t 03 đường. Sau đ Đ cầm chiếc đĩa kẻ thêm 06 đường Ketamine đưa cho Đ1 hít 03 đường, Đ1 đưa cho T sử dụng 03 đường rồi cả nhóm cùng nằm nghe nhạc. Khoảng 30 phút sau, bộ phận an ninh của Khách sạn K yêu cầu nhóm Q trả phòng do bật nhạc gây mất trật tự. Thấy vậy, Q rủ mọi người sang Khách sạn P thuộc tổ 01, phường C, thị xã S, tỉnh Lào Cai tiếp tục sử dụng ma tuý, H cầm gói ma tuý chưa dùng gồm gói nilon chứa Ketamine và 02 viên ma tuý tổng h p. Khi mọi người đến khách sạn P, Q thuê 02 phòng là 506 và 507 nhưng cả sáu người đều vào phòng 506. Tại đây, Đ gọi điện cho cửa hàng chuyển loa sang phòng 506 của khách sạn P. Q, Đ1, Đ kê bàn ghế, bật đèn nháy, kết nối điện thoại với loa và bật nhạc để cùng nhau tổ chức sử dụng ma t y. Sau đ , H gọi nhân viên lễ tân mang 01 đĩa sứ lên phòng rồi dùng thẻ card của khách sạn để “xào” chia Ketamine đường thẳng. Q, Đ, M và Tiếp lần lư t sử dụng ma tuý, Nguyễn Thị H sau khi “Xào” Ketamine và h t 01 đường ma túy rồi để đĩa lên giường. Đ kẻ 06 đường đưa cho Q, M mỗi người h t 03 đường, rồi kẻ thêm 06 đường Ketamine đưa cho Tiếp và Đ1 sử dụng, sau đ Đ kẻ 04 đường Ketamine. Sau đ cả nhóm nằm nghe nhạc. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Công an thị xã Sa Pa kiểm tra tại khách sạn P Sa Pa thì Đ mang số Ketamine còn trên đĩa đổ vào bồn rửa m t trong phòng vệ sinh, H đưa cho Q gói nilon chứa Ketamine vứt vào bồn cầu. Tiến hành kiểm tra tại phòng 506, Công an thị xã Sa Pa bắt quả tang Đinh Quang Q, Đinh Quang Đ1, Hoàng Văn Đ, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Trà M và Nguyễn Thị T về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Vật chứng thu giữ là số chất bột màu trắng còn vương vãi trên ga giường; 02 viên nén có một m t trắng, một m t hồng (Nguyễn Thị H khai đ là kẹo ngậm ho); 01 chiếc đĩa sứ màu trắng c đường kính 21cm; 01 thẻ card, một m t màu trắng có dòng chữ màu đen P Sa Pa gạch ngang dưới có dòng chữ Leisure Hotel, m t còn lại màu cam có hình bàn tay nâng quả địa cầu; 01 tờ tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) đư c cuộn tròn thành hình ống h t, hai đầu đư c cố định bằng 02 vỏ đầu lọc thuốc lá; 01 loa thùng; 01 đèn chiếu hình hộp; 01 đèn chiếu hình bán cầu; 01 đèn chiếu hình trụ bát giác; thu giữ của Đinh Quang Đ1 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone 7 plus màu đen; thu giữ của Nguyễn Thị H 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone XS max màu vàng; thu giữ của Hoàng Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone XS max màu vàng, m t sau điện thoại bị vỡ k nh, 01 đồng hồ nhãn hiệu APPLE watch seri 3, màu xám; thu giữ của Đinh Quang Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone XS max màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone 11 promax màu vàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone 11 promax màu xanh; thu giữ của Nguyễn Thị Trà M 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone 12 promax màu vàng; thu giữ của Nguyễn Thị T 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone XS max màu vàng đều là máy cũ đã qua sử dụng.

Tiến hành khám xét khẩn cấp tại phòng 624, 626, 628, khách sạn B thuộc tổ 07, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai. Tại phòng 624 do Đinh Quang Đ1 thuê ở, Đinh Quang Đ1 tự giác giao nộp 01 Balo vải màu đen, loại c dây đeo để trong tủ đựng quần áo của phòng 624. Kiểm tra bên trong có 01 hộp giấy màu trắng phía trên m t hộp có chữ B Sa Pa Hotel-Dao cạo râu Razor bên trong có 02 túi nilon loại túi Zip màu trắng. Túi thứ nhất bên trong c 14 viên nén màu nâu hình đa giác, tại mỗi m t của những viên nén này có nhiều đường dập chìm; Túi zip thứ hai bên trong có chứa nhiều hạt, cục tinh thể rắn màu trắng.

Tại kết luận định giá số 313/GĐMT ngày 19 tháng 11 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: Mẫu M1: 0,08 gam chất bột tinh thể màu trắng gửi giám định là loại chất ma túy Ketamine; Mẫu M2: Không tìm thấy chất ma t y trong 0,5 gam hai viên nén c đ c điểm giống nhau một m t mầu trắng, một m t mầu hồng gửi giám định; Mẫu M3: 5,87 gam các viên nén mầu nâu nhạt hình đa giác c đ c điểm giống nhau, trên hai m t của mỗi viên có nhiều đường dập chìm gửi giám định là loại chất ma túy MDMA; Mẫu M4: 14,67 gam các hạt chất tinh thể màu trắng gửi giám định là loại chất ma túy Ketamine.

Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 28 tháng 02 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa, truy tố các bị cáo Đinh Quang Q, Nguyễn Thị H, Hoàng Văn Đ và Đinh Quang Đ1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 và điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Đ diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Đinh Quang Q, Nguyễn Thị H, Hoàng Văn Đ và Đinh Quang Đ1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y” và phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y”. Áp dụng điểm a, b khoản 2, khoản 5 Điều 255 và điểm n khoản 2, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 55; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Quang Q mức án từ 8 (Tám) năm 6 (Sáu) tháng đến 9 (Ch n) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y”, phạt tiền từ 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) đến 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng) và xử phạt mức án từ 6 (Sáu) năm 6 (Sáu) tháng đến 7 (Bẩy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y” và phạt tiền từ 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) đến 7.000.000 đồng (Bẩy triệu đồng).

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255 và điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 55; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H mức án từ 7 (Bẩy) năm 6 (Sáu) tháng đến 8 (Tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y” và xử phạt mức án từ 6 (Sáu) năm đến 6 (Sáu) năm 6 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ mức án từ 7 (Bẩy) năm đến 7 (Bẩy) năm 6 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y” và xử phạt mức án từ 6 (Sáu) năm đến 6 (Sáu) năm 6 (Sáu) tháng tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma t y”.

Xử phạt bị cáo Đinh Quang Đ1 mức án từ 7 (Bẩy) năm đến 7 (Bẩy) năm 6 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y” và xử phạt mức án từ 6 (Sáu) năm đến 6 (Sáu) năm 6 (Sáu) tháng tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma t y”.

Tổng h p hình phạt của cả hai tội đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy số ma t y còn lại sau tr ch mẫu giám định; Đối với 0,25 gam bột màu trắng hồng phớt còn lại sau tr ch mẫu giám định cùng mảnh giấy màu trắng, bì thư ban đầu gửi giám định đư c niêm phong theo quy định; 4,2 (Bốn phẩy hai) gam ma tuý MDMA và 14,14 (Mười bốn phẩy mười bốn) gam ma tuý Ketamine; 01 chiếc đĩa sứ màu trắng c đường k nh 21 cm; 01 thẻ card, một m t màu trắng c dòng chữ màu đen P Sa Pa gạch ngang dưới c dòng chữ Leisure Hotel, m t còn lại màu cam c hình bàn tay nâng quả địa cầu; 02 vỏ đầu lọc thuốc lá.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước, gồm: 01 tờ tiền ngân hàng Nhà Nước Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) đư c cuộn tròn thành hình ống hút; 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone 7 plus màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone XS max màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone XS max màu vàng, m t sau bị vỡ k nh, máy cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone XS max màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone 11 promax màu vàng.

Tạm giữ của Nguyễn Văn Đ 01 đồng hồ nhãn hiệu APPLE watch seri 3, màu xám và của Đinh Quang Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone 11 promax màu xanh để đảm bảo thi hành án.

Tuyên án ph và quyền kháng cáo đối với bị cáo theo quy định pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đư c thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Sa Pa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không c người nào có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.

Lời khai của các bị cáo Đinh Quang Q, Nguyễn Thị H, Hoàng Văn Đ và Đinh Quang Đ1 tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù h p với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, lời khai người làm chứng, bản kết luận giám định số 313/GĐMT ngày 19 tháng 11 năm 2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, các tài liệu khác c trong hồ sơ vụ án đư c thẩm tra tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử nhận định: Sáng ngày 16 tháng 11 năm 2021, các bị cáo Đinh Quang Q, Nguyễn Thị H, Hoàng Văn Đ và Đinh Quang Đ1 tổ chức sử dụng chất ma t y cho ch nh các bị cáo và cho 02 người khác là Nguyễn Thị T (Trần Thùy L) và Nguyễn Thị Trà M, tại phòng số 1214 của khách sạn K thuộc thị xã S và sau đ cả nhóm tiếp tục di chuyển đến phòng 506 khách sạn P Sa Pa thuộc tổ 01, phường C, thị xã S để sử dụng ma túy. Đến hồi 15 giờ 30 ph t ngày 16 tháng 11 năm 2021, Công an thị xã Sa Pa bắt quả tang các bị cáo Đinh Quang Q, Nguyễn Thị H, Hoàng Văn Đ, Đinh Quang Đ1, Nguyễn Thị Trà M, Nguyễn Thị T đang sử dụng trái phép chất ma t y. Cơ quan điều tra khám xét phòng 624, khách sạn B thuộc tổ 07, phường S, thị xã S do Đinh Quang Đ1 thuê ở, Đinh Quang Đ1 tự giác giao nộp ma túy. Các bị cáo khai nhận số ma túy bị thu giữ còn lại là 5,87gam MDMA và 14,67gam Ketamine do các bị cáo mua từ thành phố T, tỉnh Bắc Ninh cầm lên thị xã Sa Pa mục đ ch sử dụng. Như vậy, các bị cáo Đinh Quang Q, Nguyễn Thị H, Hoàng Văn Đ và Đinh Quang Đ1 đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma t y và tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma t y là xâm phạm đến ch nh sách độc quyền quản lý các chất ma t y của Nhà nước. Hội đồng xét xử kết luận các bị cáo Đinh Quang Q, Nguyễn Thị H, Hoàng Văn Đ và Đinh Quang Đ1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y” theo quy định điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Các bị cáo tàng trữ khối lư ng 5,87gam MDMA và 14,67gam Ketamine là 02 chất ma túy và mục đ ch để sử dụng, như vậy các bị cáo phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử nhận định: Đây là vụ án đồng phạm mang t nh giản đơn, trong đ bị cáo Đinh Quang Q là người giữ vai trò ch nh, là người khởi xướng việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y và tàng trữ trái phép chất ma t y, đồng thời trực tiếp chi tiền mua ma t y, thuê phòng khách sạn cùng nhau tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma t y. Đối với Nguyễn Thị H là người trực tiếp trao đổi mua ma t y và tham gia t ch cực nên giữ vai trò thứ hai trong vụ án. Còn Hoàng Văn Đ và Đinh Quang Đ1 cùng tham gia thực hiện tội phạm và cất giấu ma túy nên giữ vai trò như nhau thứ ba trong vụ án.

Về tình tiết tăng n ng: Bị cáo Đinh Quang Q, Nguyễn Thị H, Hoàng Văn Đ và Đinh Quang Đ1 không phải chịu tình tiết tăng n ng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử nhận định trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Đinh Quang Q, Nguyễn Thị H, Hoàng Văn Đ và Đinh Quang Đ1 thành khẩn khai báo, nên bị cáo đư c hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về áp dụng hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo nhận thức hiểu biết pháp luật Nhà nước cấm cá nhân, tổ chức tàng trữ, mua bán, sử dụng ho c chiếm đoạt chất ma t y, nhận thức đư c tác hại của chất ma t y nhưng các bị cáo vẫn mua chất ma t y để sử dụng, các bị cáo không tu dưỡng bản thân cùng nhau tổ chức sử dụng chất ma t y cho bản thân và cho những người khác. Điều đ cho thấy các bị cáo không ý thức tôn trọng pháp luật, tu dưỡng rèn luyện bản thân nên xét xử mức án nghiêm khắc phù h p tương xứng với t nh chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội. Xét thấy tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án với Hoàng Văn Đ và Đinh Quang Đ1 là nghiêm khắc, tuy nhiên vai trò tham gia của hai bị cáo này với vai trò thứ 3 trong vụ án nên áp dụng mức án phù h p với bị cáo đối với tội tàng trữ trái phép chất ma t y.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đinh Quang Q, số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) về tội ”Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y”để sung quỹ Nhà nước là phù h p.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã tr ch mẫu giám định số còn lại gồm: 0,25 gam bột màu trắng hồng phớt còn lại sau tr ch mẫu giám định cùng mảnh giấy màu trắng, bì thư ban đầu gửi giám định đư c niêm phong theo quy định; 4,2 (Bốn phẩy hai) gam ma tuý MDMA và 14,14 (Mười bốn phẩy mười bốn) gam ma tuý Ketamine; 01 chiếc đĩa sứ màu trắng c đường k nh 21 cm; 01 thẻ card, một m t màu trắng c dòng chữ màu đen P Pa gạch ngang dưới c dòng chữ Leisure Hotel, m t còn lại màu cam c hình bàn tay nâng quả địa cầu; 02 vỏ đầu lọc thuốc lá xét thấy tịch thu tiêu hủy theo quy định pháp luật.

Đối với 01 tờ tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) đư c cuộn tròn thành hình ống h t; thu giữa của bị cáo Đinh Quang Đ1 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone 7 plus màu đen; thu giữ của Nguyễn Thị H 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone XS max màu vàng; thu giữ của bị cáo Hoàng Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone XS max màu vàng, m t sau bị vỡ k nh; thu giữ của bị cáo Đinh Quang Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone XS max màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone 11 promax màu vàng đều đã qua sử dụng. Do các bị cáo sử dụng làm phương tiện, dụng cụ để phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 đồng hồ nhãn hiệu APPLE watch seri 3, màu xám thu giữ của bị cáo Hoàng Văn Đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone 11 promax màu xanh thu giữ của Đinh Quang Q. Xét thấy đây là tài sản h p pháp của bị cáo, lẽ ra trả lại cho bị cáo nên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 loa thùng, 01 đèn chiếu hình hộp, 01 đèn chiếu hình bán cầu, 01 đèn chiếu hình trụ bát giác, 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone 12 promax màu vàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone XS max màu vàng đều đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra xác định là tài sản h p pháp của chủ sở hữu, đã trả tài sản cho chủ sở hữu nên không đề cập xử lý.

Trong vụ án: Đối với hành vi vào ngày 16 tháng 11 năm 2021, Nguyễn Thị Trà M và Nguyễn Thị T (Trần Thùy L) sử dụng trái phép chất ma túy cùng với các bị cáo. Quá trình điều tra xác định hành vi Nguyễn Thị Trà M, Trần Thùy L chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Nên Cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý là phù h p.

Đối với Lê Tiến Đ1 và Tô Văn H1 cho Đinh Quang Q thuê loa, đèn nháy để các bị cáo sử dụng ma t y vào ngày 16 tháng 11 năm 2021. Quá trình điều tra xác định anh Đ1, Hải không biết Q thuê loa, đèn nháy để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là c căn cứ.

Đối với anh Thào T làm lễ tân trực khách sạn P vào ngày 16 tháng 11 năm 2021 cho Đinh Quang Q thuê phòng. Quá trình điều tra xác định anh Thào T không biết Q thuê phòng để sử dụng ma tuý, tuy nhiên anh điện thoại đến phòng 506 của khách sạn để báo cơ quan Công an đến kiểm tra. Công an thị xã Sa Pa xử phạt hành ch nh về hành vi gây cản trở, kh khăn cho quá trình làm nhiệm vụ của lực lư ng Công an là phù h p.

Đối với người quản lý khách sạn K Sa Pa và P nơi các bị cáo thuê ở và tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y. Quá trình điều tra, xác định người quản lý khách sạn không biết các bị cáo thuê với mục đ ch tổ chức sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma t y nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là c căn cứ.

Đối với số điện thoại “0968.625.792”, bị cáo Nguyễn Thị H lưu trong danh bạ là “Chị H1”, ngày 15 tháng 11 năm 2021, H sử dụng gọi để mua ma t y, qua xác minh số điện thoại này là Ngô Quang H2, hiện đang chấp hành án phạt tù từ ngày 24 tháng 7 năm 2021. Bị cáo H không biết tên tuổi, địa chỉ của phụ nữ tên “Chị H1” ở đâu, không làm rõ đư c. Do đ không đề cập xử lý người tên H1 trong vụ án này.

Đối với số tài khoản ngân hàng “992.992.992.6999” nhận số tiền là 31.200.000 đồng (Ba mươi một triệu hai trăm nghìn đồng) do Đinh Quang Q chuyển trả tiền mua ma t y. Cơ quan điều tra xác minh số tài khoản là của anh Trần Quang H3 nhưng anh H3 không có m t tại địa phương hiện đang đang tiếp tục điều tra, làm rõ nếu c căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định.

Về án ph : Buộc các bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

Q ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Đinh Quang Q, Nguyễn Thị H, Hoàng Văn Đ Đinh Quang Đ1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y” và phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y”.

Căn cứ điểm a, b khoản 2 và khoản 5 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự, điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Quang Q 8 (Tám) năm 6 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y” và xử phạt bị cáo Đinh Quang Q 6 (Sáu) năm 6 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y”. Tổng h p hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 15 (Mười lăm) năm tù và phạt tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Thời gian chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17 tháng 11 năm 2021.

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự, điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 7 (Bẩy) năm 6 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y” và xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 6 (Sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y”. Tổng h p hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 13 (Mười ba) năm 6 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17 tháng 11 năm 2021.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ 7 (Bẩy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y” và xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ 5 (Năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y”. Tổng h p hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 12 (Mười hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17 tháng 11 năm 2021.

Xử phạt bị cáo Đinh Quang Đ1 7 (Bẩy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y” và xử phạt bị cáo Đinh Quang Đ1 5 (Năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y”. Tổng h p hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 12 (Mười hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17 tháng 11 năm 2021.

Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy gồm: 0,25 gam bột màu trắng hồng phớt (M2) (không phải là chất ma t y) còn lại sau tr ch mẫu giám định cùng mảnh giấy màu trắng đư c niêm phong trong 01 (một) bì thư sin sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, trên m t bì c ghi: “Vật chứng còn lại sau tr ch mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Thị H cùng đồng bọn về hành vi sử dụng trái phép chất ma t y ngày 16/11/20121 tại tổ 1, phường C, thị xã S, tỉnh Lào Cai”; 4,2 (Bốn phẩy hai) gam ma tuý MDMA và 14,14 (Mười bốn phẩy mười bốn) gam ma tuý Ketamine còn lại sau tr ch mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ đư c tái niêm phong bằng 01 (Một) bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, trên m t bì c ghi: “Vật chứng còn lại sau tr ch mẫu giám định thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đinh Quang Q tại phòng 624, khác sạn B, tổ 7, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai.”; 01 (Một) chiếc đĩa sứ màu trắng c đường k nh 21 cm; 01 (Một) thẻ card, một m t màu trắng c dòng chữ màu đen P Sa Pa gạch ngang dưới c dòng chữ Leisure Hotel, m t còn lại màu cam c hình bàn tay nâng quả địa cầu; 02 (Hai) vỏ đầu lọc thuốc lá.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước, gồm: 01 (Một) tờ tiền ngân hàng Nhà Nước Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) đư c cuộn tròn thành hình ống h t; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone 7 plus màu đen, máy cũ đã qua sử dụng của Đinh Quang Đ1; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone XS max màu vàng, máy cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Thị H; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone XS max màu vàng, m t sau điện thoại bị vỡ k nh, máy cũ đã qua sử dụng của Hoàng Văn Đ; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone XS max màu đen, máy cũ đã qua sử dụng và 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone 11 promax màu vàng, máy cũ đã qua sử dụng của Đinh Quang Q.

Tạm giữ 01 (Một) đồng hồ nhãn hiệu APPLE watch seri 3, màu xám, đồng hồ cũ đã qua sử dụng của Hoàng Văn Đ; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone 11 promax màu xanh, máy cũ đã qua sử dụng của Đinh Quang Q để đảm bảo thi hành án.

Về án ph : Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Buộc các bị cáo Đinh Quang Q, Nguyễn Thị H, Hoàng Văn Đ và Đinh Quang Đ1 mỗi bị cáo phải chịu số tiền là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo đư c quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường h p bản án đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự c quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7ª, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ