- Tranh chấp gì? án hình sự — "Kim Anh T - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Kim Anh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2022/HSST Ngày 20/4/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Huân – Giáo viên trường THPT Quỳ Hợp 3, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
Ông Vi Văn Tý – Chủ tịch Hội Nông dân xã Châu Cường, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Văn Vận – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2022/QĐXXST–HS ngày 08 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Kim Anh T, tên gọi khác: không; Sinh ngày 05 tháng 5 năm 2000 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm D, xã Ch, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Kim Văn Q và bà Lữ Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 12/01/2022 bị Công an huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 27/11/2021 đến nay (Có mặt).
+ Bị hại:
1. Chị Phạm Thị Huyền Tr, sinh ngày 08/4/2003
Nơi cư trú: Xóm H, xã Ch, huyện Q, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt)
2. Cháu Hà Mạnh Tr, sinh ngày 12/10/2005
Nơi cư trú: Xóm Q, xã Ch, huyện Q, Nghệ An (Vắng mặt)
Đại diện hợp pháp của cháu Hà Mạnh Tr: Chị Hà Thị M – mẹ đẻ cháu Hà Mạnh Tr, sinh năm 1974 Nơi cư trú: Xóm Q, xã Ch, huyện Q, Nghệ An
(Vắng mặt)
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lô Thị Ch, sinh năm 1969 Nơi cư trú: Bản Ph, xã Ch, huyện Q, tỉnh Nghệ An
(Vắng mặt)
2. Anh Trịnh Quốc Th, sinh năm 1987 Nơi cư trú: Khối 2, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An
(Vắng mặt)
+ Đại diện lãnh đạo trường Trung học phổ thông Quỳ Hợp 3: Ông Nguyễn Minh Đ – Hiệu trưởng (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong thời gian từ ngày 24/02/2021 đến ngày 28/02/2021, bị cáo Kim Anh T đã thực hiện 02 vụ cướp giật tài sản (điện thoại di động) trên địa bàn xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. Cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 19 giờ ngày 24/02/2021 Kim Anh T đi đến nhà Trương Văn Q chơi. Tại đây cả hai bàn bạc, rủ nhau đi cướp giật tài sản rồi Q điều khiển xe máy chở T đi trên đường tìm người sơ hở để cướp giật tài sản. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường gần ngã 3 Đồng Nại, xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp thì Q thấy chiếc xe mô tô do anh Lô Minh T điều khiển chở người ngồi sau là chị Phạm Thị Huyền Tr đang cầm trên tay 01 chiếc điện thoại di động. Q điều khiển xe máy áp sát xe máy anh T, chị Tr để T ngồi sau dùng tay cướp giật chiếc điện thoại REALME C3 của chị Tr. Khi T cướp giật được điện thoại thì Q điều khiển xe máy nhanh chóng bỏ đó cả chạy. Sau đó cả hai đưa điện thoại di động đến bán cho anh Trịnh Quốc Th được số tiền 600.000,đ. Số tiền này cả hai chia nhau tiêu sài hết.
Kết luận định giá tài sản số 22/KL – HĐĐG ngày 07/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quỳ Hợp kết luận: 01 chiếc điện thoại di động REALME C3, vỏ màu xanh, màn hình màu đen, số IMEI1: 867470041609352, số IMEI2: 867470041609345, trị giá 1.500.000,đ.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 21 giờ ngày 28/02/2021 Kim Anh T đi đến nhà Trương Văn Q chơi. Tại đây Q rủ T đi cướp giật tài sản, rồi Q điều khiển xe máy chở T đi trên đường tìm người sơ hở để cướp giật tài sản. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày khi đi đến cầu Nậm Tôn, xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp thì Q phát hiện cháu Hà Mạnh Tr điều khiển xe đạp điện chở cháu Lê Thị H, trên tay cháu Tr đang cầm điện thoại di động. Q điều khiển xe máy áp sát xe đạp điện cháu Tr, còn T ngồi sau dùng tay cướp giật chiếc điện thoại di động Iphone 6 của cháu Tr. Khi T cướp giật được điện thoại thì Q điều khiển xe máy nhanh chóng bỏ chạy. Sau đó cả hai đưa điện thoại đến bán cho anh Trịnh Quốc Th được số tiền 300.000,đ. Số tiền này cả hai chia nhau tiêu sài hết.
Kết luận định giá tài sản số 28/KL – HĐĐG ngày 01/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quỳ Hợp kết luận: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6, màu đen xám, trị giá là 1.300.000,đ.
Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Trương Văn Q ra đầu thú. Ngày 24/11/2021 Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp mở phiên tòa xét xử bị cáo Trương Văn Q, xử phạt Trương Văn Q 04 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Đối với Kim Anh T, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn khỏi địa phương. Đến ngày 27/11/2021 Kim Anh T đang thực hiện hành vi trộm cắp tài sản (ngan, gà) của bà Lô Thị Ch tại bản Ph, xã Ch, huyện Q, tỉnh Nghệ An thì bị người dân phát hiện bắt giữ giao Cơ quan điều tra xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Phạm Thị Huyền Tr, bà Lô Thị Ch đã nhận lại tài sản. Bị cáo T đã bồi thường cho cháu Hà Mạnh Tr (có chị Hà Thị M là người đại diện) số tiền 1.300.000,đ. Nay chị Tr, bà Ch, cháu Tr (chị M là người đại diện) không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường thêm. Anh Trịnh Quốc Th không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại tiền. Các bên cam đoan chấm dứt phần dân sự.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng:
Ngày 01/4/2021 Cơ quan CSĐT, Công an huyện Quỳ Hợp tạm giữ: 01 chiếc điện thoại di động Realme C3 (Có đặc điểm như mô tả tại biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu). Tài sản trên thuộc sở hữu của của chị Phạm Thị Huyền Tr, ngày 07/10/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện Quỳ Hợp đã trả lại cho chủ sở hữu.
Bản cáo trạng số 06/CT-VKS-QH ngày 21/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp truy tố bị cáo Kim Anh T về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt Kim Anh T từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Phạm Thị Huyền Tr đã nhận lại điện thoại, nay chị Trang không yêu cầu bị cáo Tuấn phải bồi thường thêm nên đề nghị không xem xét; Bị cáo Tuấn đã bồi thường cho cháu Hà Mạnh Tr (có chị Hà Thị Mlà người đại diện) số tiền 1.300.000,đ. Nay chị Tr, cháu Tr (chị M là người đại diện) không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Anh Trịnh Quốc Th không có yêu cầu gì nên đề nghị không không xem xét; Về vật chứng: Điện thoại di động thuộc sở hữu của bị hại chị Phạm Thị Huyền Tr nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị Phạm Thị Huyền Tr; Về án phí: Bị cáo Kim Anh T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo K anh T nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời luận tội của Kiểm sát viên. Nói lời sau cùng tại phiên tòa, bị cáo Kim Anh T nhận tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Hợp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Những chứng cứ xác định có tội:
Căn cứ các tài liệu chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập được tại hồ sơ vụ án. Căn cứ lời khai nhận của bị cáo tại quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận:
Vào ngày 24/02/2021 và ngày 28/02/2021 Kim Anh T ngồi sau xe mô tô do Trương Văn Q điều khiển, thực hiện 02 vụ cướp giật điện thoại di động của người dưới 16 tuổi trên địa bàn xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, gây thiệt hại về tài sản trị giá 2.800.000,đ.
Hành vi trên của Kim Anh T đã phạm tội “Cướp giật tài sản”. Tội phạm được quy định tại khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Hành vi “Cướp giật tài sản” của Trương Văn Q được Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp xét xử vào ngày 24/11/2021. Đối với hành vi trộm cắp tài sản của Kim Anh T vào ngày 27/11/2021, trị giá tài sản (ngan, gà) là 750.000,đ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, do đó Công an huyện Quỳ Hợp đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Kim Anh T.
Xét tính chất vụ án; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của Kim Anh T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra, xử lý vụ án. Bị cáo sử dụng xe máy (nguồn nguy hiểm cao độ) thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người dưới 16 tuổi, gây nguy hiểm đến tính mạng sức khỏe của người bị hại nên cần áp dụng quy định tại điểm d, g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo mức án nghiêm tương xứng.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 2 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo tự nguyện bồi thường cho người bị hại. Đó là các tình tiết cần áp dụng để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự:
Chị Phạm Thị Huyền Tr, bà Lô Thị Ch đã nhận lại tài sản. Bị cáo T đã bồi thường cho cháu Hà Mạnh Tr (có chị Hà Thị M là người đại diện) số tiền 1.300.000,đ. Nay chị Tr, bà Ch, cháu Tr (chị M là người đại diện) không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Trịnh Quốc Th mua điện thoại di động với bị cáo T, tuy nhiên anh Th không biết tài sản do phạm tội mà có, do đó không xem xét xử lý đối với anh Th. Anh Th không yêu cầu bị cáo T hoàn trả lại tiền nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo T là lao động phổ thông, đang sống phụ thuộc vào gia đình, không có thu nhập, không có tài sản. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án:
- Điện thoại di động thuộc sở hữu của bị hại chị Phạm Thị Huyền Tr nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị Phạm Thị Huyền Tr.
Về án phí: Bị cáo Kim Anh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Kim Anh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Căn cứ điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015
Xử phạt Kim Anh T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/11/2021.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Kim Anh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000,đ (hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Vắng mặt bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, đại diện Nhà trường.
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án.
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An - VKSND tỉnh Nghệ An - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An - VKSND huyện Quỳ Hợp - Công an huyện Quỳ Hợp - Thi hành án dân sự - Thi hành án hình sự - Bị cáo; Người bị hại - Người có QLNVLQ - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trương Thị Thu Hà |