vanban.org

Bản án 17/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 16/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Đỗ Văn T 08 (Tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và phải chịu thời gian thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường Nam Đồng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thờ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn T - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN H. QUẾ VÕ
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________
Bản án số: 17/2022/HSST
Ngày 16/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huệ & Bà Nguyễn Thị Phú.

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hòa, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Võ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2022/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2022/QĐXXST

- HS ngày 02 tháng 12 năm 2022, đối với:

Bị cáo: Đỗ Văn T - sinh năm 1995;

HKTT: Khu dân cư Nhân Nghĩa, phường Nam Đồng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn Thung và bà Đoàn Thị Tách; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con út; Vợ: Sùng Thị Khua, sinh năm 1999. Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/09/2022 đến ngày 25/11/2022 được thay đổi bằng biện pháp “Bảo lĩnh”, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

1. Ông Hồ Quang Đ, sinh năm 1959.

(Đề nghị xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: thôn Thuỷ, xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

2. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1990.

(Đề nghị xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: thôn Đô Đàn, xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

3. Anh Phạm Văn S, sinh năm 1990.

(Đề nghị xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: thôn Mai Thôn, xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Văn T - sinh năm: 1995; Nguyễn Văn Kiên, sinh năm 1995 cùng HKTT: Khu dân cư Nhân Nghĩa, phường Nam Đồng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; Đinh Khắc Đồng, sinh năm 1996, HKTT: Khu dân cư Khánh Hội, phường Nam Đồng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương là người cùng quê với nhau, do không có việc làm nên cả nhóm rủ nhau lên thành phố Từ Sơn thuê phòng trọ ở để đi tìm việc làm.

Khoảng 04 giờ ngày 14/09/2022, T và Kiên Đng ngủ tại phòng trọ thì Đồng gọi T và Kiên dậy để đi trộm chó, T và Kiên đồng ý rồi thỏa thuận Kiên và Đồng đi trộm chó trước, khi nào trộm được chó sẽ điện thoại cho T đến lấy chó để mang đi bán. Sau khi thỏa thuận xong, Kiên và Đồng mang theo thòng lọng, kích điện và bao tải đã chuẩn bị từ trước điều khiển xe môtô đi đến địa phận xã Chi Lăng, huyện Quế Võ để trộm cắp chó. Đến khoảng 05 giờ cùng ngày, sau khi nhận được điện thoại của Kiên, T điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius màu đen BKS 29S6 – 299.26 đi đến đê thuộc xã Cách Bi thì thấy Kiên và Đồng Đng đứng đợi, T thấy trên xe môtô của Kiên và Đồng có 01 bao tải đựng 02 con chó đã chết và 01 con chó còn sống ở bên trong (sau này xác định được của ông Hồ Quang Đ, sinh năm 1959 ở thôn Thủy, xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, anh Phạm Văn S, sinh năm 1990 ở thôn Mai Thôn, xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh và anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1990 ở thôn Đô Đàn, xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh). Lúc này, Đồng bê bao tải đựng chó sang xe môtô của T và bảo T mang đi bán. Sau đó, Kiên và Đồng đi đâu T không biết. Trên đường đi bán chó, T bị tổ công tác Công an xã Chi Lăng, huyện Quế Võ cùng quần chúng nhân dân phát hiện, T bỏ chạy đến thôn Mai Thôn, xã Chi Lăng thì bị tổ công tác bắt giữ và đưa về trụ sở để làm việc. Quá trình làm việc, Đỗ Văn T đã đầu thú, giao nộp 03 con chó, 01 xe môtô Yamaha Sirius màu đen BKS 29S6 – 299.26 và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp như trên.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 xe máy Yamaha Sirius màu đen – trắng, BKS 29S-299.26.

- 03 con chó: 01 con chó cái màu vàng khối lượng 10 kg, 01 con chó đực màu vàng khối lượng 11 kg, 01 con chó đực màu nâu khối lượng 06 kg (02 con chó đã chết, 01 con chó còn sống) tổng khối lượng 27 kg.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 66/KL-HĐĐGTS ngày 16/09/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Quế Võ kết luận: “01 con chó cái màu vàng, loại chó ta, nặng 10kg tại thời điểm định giá có giá trị 1.000.000 đồng”.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 67/KL-HĐĐGTS ngày 16/09/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Quế Võ kết luận: “01 con chó đực màu vàng, loại chó ta, nặng 11kg tại thời điểm định giá có giá trị 1.100.000 đồng”.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 68/KL-HĐĐGTS ngày 16/09/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Quế Võ kết luận: “01 con chó đực màu nâu, loại chó ta, nặng 06kg tại thời điểm định giá có giá trị 600.000 đồng”.

Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Quế Võ, bị cáo Đỗ Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 165/CT-VKSQV ngày 29/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ đã truy tố Đỗ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Đỗ Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt: Đỗ Văn T từ 07 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 đến 20 tháng. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Do người bị hại đã nhận được tài sản bị mất, người bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 Biển kiểm soát 29S6-299.26.

Bị cáo Đỗ Văn T nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và phạm tội. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng án treo, để được đi làm phụng dưỡng bố mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quế Võ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ Văn T tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định được: Hồi 05 giờ 45 phút ngày 14/9/2022 tại xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, Đỗ Văn T có hành vi trộm cắp 01 con chó cái màu vàng của ông Hồ Quang Đ trị giá 1.000.000 đồng, 01 con chó đực màu vàng của anh Nguyễn Văn C trị giá 1.100.000 đồng, 01 con chó đực màu nâu của anh Phạm Văn S trị giá 600.000 đồng. Tổng tài sản T trộm cắp được trị giá 2.700.000 đồng. Tài sản đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại. Như vậy, thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của Đỗ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần xử bị cáo với mức án tương xứng với hành vi của bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra, truy tố đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã đến Công an đầu thú nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Về nhân thân bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa bị xử lý vi phạm pháp luật lần nào. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đảm bảo tác dụng giáo dục pháp luật đối với bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung tội phạm. Xét không cần phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, cơ quan điều tra đã thu hồi và trả lại tài sản cho người bị hại, người bị hại đã nhận được tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đối với 01 con chó cái màu vàng xác định là tài sản của ông Hồ Quang Đ, 01 con chó đực màu vàng xác định là tài sản của anh Nguyễn Văn C, 01 con chó đực màu nâu xác định là tài sản của anh Phạm Văn S nên ngày 17/9/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Võ đã trả lại cho ông Đ, anh S và anh C. Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu T phải bồi thường.

Đối với ông Nguyễn Tất Minh, sinh năm 1967, HKTT: Khu Phố Thượng, phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, quá trình điều tra ông Minh không thừa nhận đã cho T, Kiên và Đồng thuê phòng trọ. Cơ quan CSĐT Công an huyện Quế Võ đã tiến hành đối chất giữa T và ông Minh. Ông Minh vẫn khẳng định không cho T, Kiên và Đồng thuê phòng trọ. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quế Võ tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ đề nghị xử lý sau là phù hợp.

Đối với Nguyễn Văn Kiên và Đinh Văn Đồng cùng thực hiện hành vi trộm cắp với T. Tuy nhiên, Kiên và Đồng hiện không có mặt tại địa phương nên cơ quan CSĐT Công an huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau là phù hợp.

Về vật chứng vụ án: Đối với chiếc BKS 29S6 - 299.26, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quế Võ đã tiến hành trưng cầu giám định và xác định là biển giả do vậy cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với chiếc xe môtô Yamaha Sirius màu đen BKS 29S6 – 299.26, số khung: RLCS5C6K0FY192390, số máy: 5C6K192395. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của anh Hoàng Đình Hạ, sinh năm 1995, HKTT: Tiên Hòa 1, xã Hà Lĩnh, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Khoảng tháng 8/2020, anh hạ dựng chiếc xe trên ở phòng trọ tại thôn Thanh Hóa, xã Nghĩa Hiệp, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên thì bị kẻ gian trộm cắp. Cơ quan CSĐT Công an huyện Quế Võ đã có công văn trao đổi với Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên về vụ việc trên và tiến hành tách chiếc xe máy Yamaha Sirius số khung: RLCS5C6K0FY192390, số máy: 5C6K192395 để xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Xử phạt: Đỗ Văn T 08 (Tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và phải chịu thời gian thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường Nam Đồng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Luật thi hành án hình sự.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 Biển kiểm soát 29S6-299.26. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/11/2022 giữa Công an huyện Quế Võ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Võ).

Về án phí: bị cáo Đỗ Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án./.

Cỡ chữ