vanban.org

Bản án 17/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 25/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quy t số 02/2018/N -HĐTP ngày 15/5/2018 c a H i đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Tuyên bố bị cáo Lâm Thanh B phạm “T i tr m cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Lâm Thanh B 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/7/2022). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường S, thành phố H, tỉnh Kiên Giang để giám sát, giáo dục tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Lâm Thanh B phạm “Tội trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị quy t số 02/2018/N -HĐTP ngày 15/5/2018 c a H i đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2022/HS-ST
Ngày: 25-7-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Chí Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Thanh Học.

Bà Đỗ Thị Thanh Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:

Ông Ngô Văn Phước – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2022, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2022 theo uy t định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2022/ ĐXXST-HS, ngày 12 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Lâm Thanh B; Sinh ngày 10/7/1992 tại H - Kiên Giang; Nơi cư trú: Số 42, đường T, Khu phố 3, phường S, thành phố H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình đ học vấn: 10/12; dân t c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Thanh K và bà Nguyễn Thị Thu T2; chưa có vợ, con; tiền án: Không; Tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo được tại ngoại. (có mặt)

- Bị hại:

1. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1990; (có mặt)

2. Chị Lê Thị Kiều H, sinh năm 1991. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Tổ 1, khu phố Đ, phường M, thành phố H, tỉnh Kiên Giang.

- Người làm chứng:

1. Ông Trần Văn H2 (vắng mặt);

2. Chị Cao Trang N (vắng mặt);

3. Bà Lâm Thị D (vắng mặt);

4. Bà Võ Thị H3 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo n i dung bản Cáo trạng số: 15/CT-VKSHT ngày 05 tháng 7 năm 2022 c a Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang đã truy tố Lâm Thanh B về hành vi phạm t i như sau:

Khoảng 17 giờ, ngày 07/4/2022, Lâm Thanh B đ n nhà nghỉ Hạnh Phúc thu c khu phố Đ, phường M, thành phố H do vợ ch ng ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Kiều H làm ch thuê phòng số 01 để nghỉ qua đêm. Sau khi nhận phòng, do bị cúp điện nên B đi ra phía trước nhà nghỉ ng i và nói chuyện với ông T m t lúc thì B trở về phòng nghỉ. Khi đi đ n quầy ti p tân, B phát hiện có 01 cái ví tay màu đen c a gia đình ông T để trên bàn, quan sát không có người trông coi, B liền lấy tr m đem về phòng cất giấu và B đi trở ra gặp ông T mượn cây đèn pin đem về phòng nghỉ để soi kiểm tra bên trong cái ví tay màu đen vừa tr m được có 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy J7 Pro màu trắng h ng; 01 điện thoại hiệu Redmi 10 và số tiền 2.567.000 đ ng cùng nhiều giấy tờ cá nhân đứng tên Lê Thị Kiều H. Sau đó, B lấy 02 cái điện thoại giấu dưới nệm giường phòng số 01, lấy số tiền bỏ trong túi quần và cái ví cùng giấy tờ khác đem sang phòng số 4 vứt bỏ trong sọt rác.

Khi phát hiện tài sản bị mất tr m, ông T nghi là B lấy tr m và đi vào phòng nghỉ số 01 kiểm tra phát hiện 02 chi c điện thoại được giấu dưới nệm giường, thấy vậy B liền bỏ chạy thì bị ông T đuổi theo bắt giữ được B và trình báo Công an phường M đ n lập Biên bản bắt người phạm t i quả tang đối với B và thu giữ g m: 02 chi c điện thoại, số tiền 2.567.000 đ ng, 01 cái ví nữ màu đen và các giấy tờ cá nhân khác (đã trả lại cho bà H). Sau đó chuyển toàn b h sơ, vật chứng đ n Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H điều tra theo thẩm quyền.

Tại bản K t luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS ngày 19/4/2022 c a H i đ ng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng thành phố H - Ủy ban nhân dân thành phố H, k t luận: (BL 61-64)

- M t cái ví màu đen kích thước (23,5 x 13)cm trên ví có chữ Yuqifashion (đã qua sử dụng) với giá 20.000 đ ng;

- M t chi c điện thoại di đ ng nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro, màu trắng h ng, có ốp lưng màu đen có hình H sen (đã qua sử dụng) với giá 1.500.000 đ ng;

- M t chi c điện thoại di đ ng nhãn hiệu Redmi 10, màu xám, có ốp lưng trong suốt (đã qua sử dụng) với giá 2.566.000 đ ng.

Tại thời điểm định giá ngày 07/4/2022 có tổng giá trị tài sản là 4.086.000 đ ng (Bốn triệu không trăm tám mươi sáu ngàn đ ng chẵn).

Vật chứng trong vụ án:

1) M t cái ví màu đen kích thước (23,5 x 13)cm trên ví có chữ Yuqifashion (đã qua sử dụng);

2) M t chi c điện thoại di đ ng nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro, màu trắng h ng, có ốp lưng màu đen có hình H sen (đã qua sử dụng);

3) M t chi c điện thoại di đ ng nhãn hiệu Redmi 10, màu xám, có ốp lưng trong suốt (đã qua sử dụng);

4) Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 2.567.000 đ ng, g m: 05 tờ mệnh giá 500.000 đ ng, số seri H 20943429, GL 17934908, BK 16078659, GP 17640206, WH 14049915; 02 tờ mệnh giá 20.000 đ ng, số seri OI 12971767, S 20549014; 02 tờ mệnh giá 10.000 đ ng, số seri PJ 15667278, KB 18746741; 02 tờ mệnh giá 2.000 đ ng, số seri DY 7580627, DN 1484923; 03 tờ mệnh giá 1.000 đ ng, số seri MK 97179706, WN 2580763, FX 6612404, qua giám định đều là tiền thật theo Bản giám định số 540/KL-KTHS, ngày 24/6/2022 c a Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang (BL 126).

Các vật chứng nêu trên đã trả lại cho ch sở hữu là ông Nguyễn Văn T theo Biên bản giao nhận ngày 19/4/2022 và uy t định xử lý vật chứng số 03/ Đ-C ĐT ngày 27/4/2022 c a Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H. Đ ng thời, ông T và bà H không yêu cầu bị can B phải b i thường trách nhiệm dân sự (BL 68; 102-103; 112-113).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lâm Thanh B và đề nghị H i đ ng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Lâm Thanh B phạm T i tr m cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 c a B luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lâm Thanh B mức án từ 06 đ n 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đ n 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc các bị hại không yêu cầu bị cáo b i thường gì thêm.

- Về vật chứng: Ghi nhận quy t định xử lý vật chứng c a Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H.

- Về án phí: Bu c bị cáo chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi c a mình là vi phạm pháp luật và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, bị cáo nói bi t sai và xin được giảm nhẹ hình phạt. Bị hại chị H có đơn xin xét xử vắng mặt và không có yêu cầu gì về b i thường thiệt hại, bị hại anh T xin H i đ ng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đ ng xét xử nhận định như sau:

Về sự vắng mặt c a bị hại chị Lê Thị Kiều H: Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 292 c a B luật Tố tụng hình sự, H i đ ng xét xử T hành xét xử vắng mặt chị H theo quy định.

Về hành vi c a bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm t i. Qua xem xét các lời khai c a bị cáo trong quá trình điều tra, tại phiên tòa và lời khai c a những người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ vụ án và chứng minh tại phiên tòa, H i đ ng xét xử có đ cơ sở k t luận: Khoảng 17 giờ, ngày 07/4/2022, tại nhà nghỉ Hạnh Phúc thu c khu phố Đ, phường M, thành phố H, Lâm Thanh B thực hiện hành vi tr m cắp tài sản c a ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Kiều H, g m 01 cái ví tay màu đen có giá trị 20.000 đ ng; 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy J7 Pro có giá trị 1.500.000 đ ng; 01 điện thoại hiệu Redmi 10 có giá trị 2.566.000 đ ng và số tiền 2.567.000 đ ng. Tổng giá trị tài sản là 6.653.000 đ ng (Sáu triệu sáu trăm năm mươi ba ngàn đ ng) thì bị Công an phường M lập biên bản bắt người phạm t i quả tang. Hành vi c a bị cáo B đã cấu thành T i tr m cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 c a B luật Hình sự. Cụ thể:

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm …”.

Như vậy, Cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo về t i danh và điều khoản nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức đ phạm t i c a bị cáo: Hành vi c a bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, trực ti p xâm phạm đ n quyền sở hữu tài sản c a người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có đầy đ năng lực nhận thức rõ hành vi c a mình là vi phạm pháp luật, lợi dụng sự sơ hở trong bảo quản tài sản c a bị hại trong lúc bị cúp điện để thực hiện hành vi lén lút tr m cắp, mục đích nh m bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Bị cáo thực hiện hành vi phạm t i với lỗi cố ý, tuy nhiên việc bị cáo phạm t i là hành vi nhất thời, do nảy sinh lòng tham. Hành vi c a bị cáo không những làm ảnh hưởng đ n tình hình an ninh trật tự tại địa phương, mà còn gây nên tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân.

Xét về nhân thân: Tài liệu về lý lịch thể hiện bị cáo có nhân thân tốt, chưa từng có tiền án, tiền sự.

Về tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình ti t giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm t i, có thái đ thành khẩn khai báo, phạm t i lần đầu và thu c trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản bị mất tr m được thu h i toàn b trả lại cho bị hại nên bị cáo phạm t i nhưng chưa gây thiệt hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, Kiểm sát viên đề nghị H i đ ng xét xử áp dụng cho bị cáo tình ti t giảm nhẹ được quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 c a B luật Hình sự là phù hợp nên cần chấp nhận.

Về áp dụng hình phạt: Xét thấy cần áp dụng m t mức hình phạt tương xứng với hành vi c a bị cáo sao cho vừa đảm bảo tính giáo dục, vừa răn đe phòng ngừa chung. ua xem xét các tình ti t giảm nhẹ và thái đ thành khẩn c a bị cáo, H i đ ng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình ti t giảm nhẹ và không có tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị H i đ ng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 c a B luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 06 đ n 09 tháng tù cho hưởng án treo. Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, không cần thi t cách ly bị cáo khỏi xã h i cũng đảm bảo cho việc giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, bi t tôn trọng pháp luật, sống có ích cho gia đình và xã h i. Căn cứ hướng dẫn tại Nghị quy t số 02/2018/N - HĐTP ngày 15/5/2018 c a H i đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, H i đ ng xét xử xét thấy có đ điều kiện áp dụng Điều 65 c a B luật Hình sự để xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo, nh m thể hiện chính sách khoan h ng c a pháp luật và ch y u nh m mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã h i.

Về b i thường thiệt hại: Các bị hại đã nhận lại được tài sản bị mất và không yêu cầu bị cáo b i thường gì thêm nên H i đ ng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Ghi nhận uy t định xử lý vật chứng số 03/ Đ-C ĐT ngày 27/4/2022 c a Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H về việc giao trả toàn b vật chứng cho bị hại.

Về án phí: Bu c bị cáo phải chịu 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm.

Về tính hợp pháp c a các hành vi, quy t định tố tụng c a Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm theo quy định c a B luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các điều 38, 47, 51, 65, 173 c a B luật Hình sự;

- Các điều 106, 136, 292 c a B luật Tố tụng hình sự;

- Điều 23 c a Nghị quy t số 326/2016/UBTV H14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 c a Ủy ban thường vụ uốc h i;

- Nghị quy t số 02/2018/N -HĐTP ngày 15/5/2018 c a H i đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

1. Tuyên bố bị cáo Lâm Thanh B phạm “T i tr m cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 c a B luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Lâm Thanh B 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/7/2022). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường S, thành phố H, tỉnh Kiên Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 68, khoản 3 Điều 92 c a Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quy t định bu c người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù c a bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về b i thường thiệt hại: Ghi nhận việc các bị hại không yêu cầu bị cáo b i thường gì thêm.

3. Về xử lý vật chứng: Ghi nhận uy t định xử lý vật chứng số 03/ Đ-C ĐT ngày 27/4/2022 c a Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H về việc giao trả các vật chứng cho bị hại theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đ vật, tài liệu ngày 25/6/2022.

4. Về án phí: Bu c bị cáo phải chịu 200.000 đ ng (Hai trăm nghìn đ ng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. uyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại anh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại chị H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm y t hợp lệ.

Trường hợp bản án, quy t định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ