vanban.org

Bản án 17/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Kon Tum, tỉnh Kon Tum Tuyên án 25/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ KON TUM
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2022/HS-ST
Ngày: 25/01/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Nghiên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Ph và ông Trương Duy Cảnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hà Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thùy An – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 161/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 171/2021/QĐXXST- HS ngày 30 tháng 12 năm 2021 đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Hoàng S (tên gọi khác: Bi), sinh năm 1994 tại Gia Lai.

Nơi cư trú: Tổ dân phố 8, thị trấn ĐăkĐoa, huyện ĐăkĐoa, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Nga (sinh năm 1962) và bà Trần Thị Thảo (sinh năm 1964).

Tiền sự: không.

Tiền án: 03 tiền án.

Bản án số 11/2016/HSST Ngày 31/3/2016, bị cáo S bị Tòa án nhân dân huyện ĐăkĐoa, tỉnh Gia Lai xử phạt 30 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đến ngày 03/2/2018, chấp hành xong hình phạt trở về địa Ph (Chưa xóa án tích).

Bản án số 04/2019/HSST ngày 07/3/2019 bị Tòa án nhân dân huyện ĐăkĐoa, tỉnh Gia Lai xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 14/11/2019, chấp hành xong hình phạt trở về địa Ph (Chưa xóa án tích).

Bản án số 22/2020/HSST ngày 21/7/2020 bị Tòa án nhân dân huyện ĐăkĐoa, tỉnh Gia Lai xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 19/12/2020, chấp hành xong hình phạt trở về địa Ph (Chưa xóa án tích).

Nhân thân: Ngày 09/6/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện ChưPăh, tỉnh Gia Lai khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Hoàng S về tội “Cướp giật tài sản” và bắt tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

2/ Trần Nhật Ph (tên gọi khác: Đô), sinh năm 1986 tại Kon Tum.

Nơi cư trú: Thôn 2, xã An Phú, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Lương (sinh năm 1956) và bà Lê Thị Thuận (sinh năm 1957). Vợ bị cáo là Trần Thị Ph Trang, sinh năm 1982, bị cáo có một con sinh năm 2011.

Tiền án: Không;

Tiền sự: 01 tiền sự, ngày 28/01/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố PleiKu, tỉnh Gia Lai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, ngày 04/9/2020 đã chấp hành xong quyết định (chưa được xóa tiền sự).

Nhân thân: Ngày 09/6/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trần Nhật Ph về tội “Cướp giật tài sản” và bắt tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Anh Vũ Đức H, sinh năm 1996.

Địa chỉ: 55 Huỳnh Đăng Thơ, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Quang Ph, sinh năm 1997; Địa chỉ: 300 Trần Hưng Đạo phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 07/5/2021 Trần Nhật Ph (Sinh ngày: 29/5/1986; trú tại: Thôn 2-Xã An Phú- TP. LeiKu- Gia Lai) điều khiển xe mô tô BKS: 82K4-1953, kiểu dáng Suzuki Viva chở theo Nguyễn Hoàng S (Sinh ngày: 02/12/ 1994; trú tại: Tổ dân phố 8-TT. Đăk Đoa, huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai) đi từ huyện Đăk Đoa- Gia Lai lên TP. Kon Tum để chơi. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày cả hai về lại Gia Lai. Trên đường về, khi đi đến tiệm Mỳ cay tại số nhà 385 đường Lê Hồng Phong, TP. Kon Tum thì Ph dừng xe lại, S đi vào tiệm Mỳ cay để mua thuốc lá. Khi S đi vào trong quán, thấy quán không có người trông coi, phát hiện trên quầy tính tiền có 01 (một) điện thoại Iphone 12 Promax, 128 Gb, màu vàng của anh Vũ Đức H (Sinh năm: 1996, trú tại: 55 Huỳnh Đăng Thơ, phường Quang Trung, TP. Kon Tum) nên S liền nảy sinh ý định trộm cắp và lén lút lấy chiếc điện thoại này. Khi lấy xong điện thoại S cầm ra gặp Ph và nói với Ph: “em vào quán, có điện thoại để trên bàn, không có ai trông coi nên em lấy điện thoại rồi”. Vì để có tiền tiêu xài, nên cả S và Ph đi tìm tiệm điện thoại để bán lấy tiền. Khi đi đến tiệm điện thoại “Nhật An” ở địa chỉ số: 300 đường Trần Hưng Đạo, Phường Quyết Thắng, TP. Kon Tum, S gặp anh Lê Quang Ph là chủ cửa hàng (Sinh ngày: 14/3/1997; trú tại: 721 Phạm Văn Đồng, Phường Trần Hưng Đạo, TP. Kon Tum, Tỉnh Kon Tum) nói muốn bán chiếc điện thoại Iphone 12 Promax với giá 3.000.000đ (Ba triệu đồng chẵn), Ph đồng ý mua lại chiếc điện thoại trên với giá 3.000.000 đ (Ba triệu đồng chẵn) mà không hỏi nguồn gốc chiếc điện thoại trên ở đâu mà có. Sau khi bán xong điện thoại, S lấy 2.000.000 đ (Hai triệu đồng) và chia cho Ph 1.000.000 đ(Một triệu đồng). Số tiền này S và Ph đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐ ngày 28/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Kon Tum kết luận giá trị của 01 (Một) điện thoại di động Iphone 12 Promax, 128 Gb, màu vàng, tại thời điểm bị chiếm đoạt là 31.891.200 đồng (Ba mươi mốt triệu tám trăm chín mốt ngàn hai trăm đồng), làm tròn: 31.891.000 đ (Ba mươi mốt triệu tám trăm chín mốt ngàn đồng).

Tại bản cáo trạng số 157/CT-VKSTPKT ngày 30/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Trần Nhật Ph về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng S phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng S mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù; Tuyên bố bị cáo Trần Nhật Ph phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trần Nhật Ph từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung không áp dụng đối với các bị cáo; Về các vấn đề khác giải quyết theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì; nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Kon Tum, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng,người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều H pháp.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, và có đầy đủ lời khai trong vụ án, không có ý kiến đề nghị mức hình phạt và không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù H với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù H với lời khai của bị hại, phù H với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 17 giờ 00 ngày 07/5/2021, tại tiệm Mỳ cay số 385 Lê Hồng Phong, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum, Nguyễn Hoàng S đã lợi dụng việc sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, lén lút trộm cắp được 01 (một) điện thoại di dộng Iphone 12 Promax, 128Gb, màu vàng của anh Vũ Đức H. Sau khi trộm cắp được tài sản, S đã kể lại cho Trần Nhật Ph biết. Mặc dù biết rõ điện thoại di động nói trên là do S phạm tội mà có nhưng Ph vẫn chở S đến tiệm điện thoại “Nhật An” số: 300 đường Trần Hưng Đạo, Phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum bán cho anh Lê Quang Ph chủ tiệm với giá 3.000.000 đ (Ba triệu đồng). S lấy 2.000.000 đ (Hai triệu đồng) và chia cho Ph 1.000.000 đ (Một triệu đồng). Giá trị tài sản chiếm đoạt là 31.891.000 đ (Ba mươi mốt triệu, tám trăm chín mươi mốt nghìn đồng). Do đó HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng S đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Trần Nhật Ph đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự, như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Kon Tum truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất mức độ phạm tội: Hành vi của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bức xúc, hoang mang lo lắng trong nhân dân, gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn thành phố Kon Tum. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, mục đích phạm tội vì vụ lợi. Do đó Hội đồng xét xử cần phải xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của từng bị cáo gây ra. Cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người lương thiện, biết tôn trọng pháp luật; đồng thời răn đe và phòng ngừa chung đối với các loại tội phạm.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Đối với Nguyễn Hoàng S đã thực hiện 02 (hai lần) Trộm cắp tài sản vào các năm 2019 và năm 2020, tuy nhiên mỗi lần phạm tội tài sản định giá không đủ 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) nhưng do trước đó S đã từng bị kết án về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, nên các lần phạm tội năm 2019, 2020 vẫn đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Vì vậy, các lần bị kết án vào các năm 2019, năm 2020 không thuộc trường H tái phạm. Đối với lần phạm tội này Nguyễn Hoàng S, trước đó đã có 03 (ba) tiền án chưa được xóa án tích, nhưng lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên Nguyễn Hoàng S phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Trần Nhật Ph không có tình tiết tăng nặng.

Xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân xấu.

Đối với Nguyễn Hoàng S trước đây đã bị Tòa án kết án nhiều lần về các tội xâm phạm sở hữu; Ngày 28, 29 tháng 4 năm 2021 thực hiện hành vi “Cướp giật tài sản”, hiện bị Cơ quan CSĐT Công an huyện ChưPăh, tỉnh Gia Lai khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam ngày 09/6/2021 (Vụ án chưa được xét xử).

Đối với Trần Nhật Ph có 01 tiền sự ngày 28/01/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố PleiKu, tỉnh Gia Lai ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, ngày 04/9/2020 đã chấp hành xong quyết định (chưa được xóa tiền sự); Ngày 28, 29 tháng 4 năm 2021 cùng với Nguyễn Hoàng S thực hiện hành vi “Cướp giật tài sản”, hiện bị Cơ quan CSĐT Công an huyện ChưPăh, tỉnh Gia Lai khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam ngày 09/6/2021 (Vụ án chưa được xét xử).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hoàng S và Trần Nhật Ph đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Các tình tiết khác: Đối với Lê Quang Ph là người mua 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 Promax, 128Gb, màu vàng do Nguyễn Hoàng S và Trần Nhật Ph mang bán với số tiền 3.000.0000 đồng (Ba triệu đồng). Lúc mua, anh Ph không biết điện thoại này do trộm cắp mà có nên không có cơ sở để xử lý Ph về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Về trách nhiệm dân sự: Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại của anh Vũ Đức H yêu cầu bị cáo Nguyễn Hoàng S phải bồi thường trị giá 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax, 128Gb, màu vàng số tiền là 31.891.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hoàng S đồng ý bồi thường, nên buộc bị cáo Nguyễn Hoàng S phải bồi thường cho anh Vũ Đức H số tiền 31.891.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone 12Promax, 128Gb, màu vàng bị cáo Nguyễn Hoàng S và Trần Nhật Ph đã mang đến tiệm di động “Nhật An” bán cho anh Ph là chủ cửa hàng, tuy nhiên anh Ph đã tháo linh kiện chiếc điện thoại di động này bán lại cho khách hàng nên không thu giữ được.

Đối với 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Suzuki Viva, biển kiếm soát 82K4-1953 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ChưPăh, tỉnh Gia Lai thu giữ và xử lý trong vụ án “Cướp giật tài sản” xảy ra tại địa bàn huyện ChưPăh, tỉnh Gia Lai.

Đối với số tiền 3.000.000 đồng bị cáo Nguyễn Hoàng S và Trần Nhật Ph bán điện thoại của bị hại (anh Vũ Đức H) mà có, trong đó S lấy 2.000.000 đồng, chia cho Ph 1.000.000 đồng cả hai đã tiêu xài hết. Tại phiên tòa bị cáo S đồng ý bồi thường toàn bộ tài sản cho bị hại anh Vũ Đức H số tiền 31.891.000 đồng, đồng thời không yêu cầu bị cáo Ph hoàn trả lại số tiền 1.000.000 đồng nên HĐXX xét không tuyên thu đối với các bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng S phạm tội “Trộm cắp tài sản” và bị cáo Trần Nhật Ph phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

2. Về hình phạt:

2.1 Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng S 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2.2 Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Trần Nhật Ph 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng S phải bồi thường thiệt hại cho bị hại anh Vũ Đức H số tiền là 31.891.000 đồng (Ba mươi mốt triệu tám trăm chín mươi mốt nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường H pháp luật có quy định khác.

4. Về án phí:

Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1, 3 Điều 21, điểm khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Bị cáo Nguyễn Hoàng S phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.594.550 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Hoàng S phải chịu tổng cộng tiền án phí: 1.794.550 đồng (Một triệu, bảy trăm chín mươi bốn nghìn, năm trăm năm mươi đồng).

Bị cáo Trần Nhật Ph phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/01/2022) các bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án để xin xét xử lại vụ án theo trình tự Ph thẩm. Riêng đối với bị hại, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ