- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sồng A D và đồng phạm trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Sồng A D và Tráng A C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2022/HS-ST Ngày 21 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tân Việt
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Ó; bà Lê Thị Bống
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
1. Sồng A D, sinh ngày 02 tháng 4 năm 1999 tại Phù Yên- Sơn La; nơi cư trú: bản Suối Tọ, xã Suối Tọ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Mông; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Sồng A Sềnh; con bà: Tráng Thị Thanh; bị cáo có vợ là Thào Thị Dông và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19 tháng 10 năm 2022 đến nay; “có mặt”.
2. Tráng A C, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1990 tại Phù Yên- Sơn La; nơi cư trú: bản Suối Tọ, xã Suối Tọ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tráng A Co; con bà: Giàng Thị Công; bị cáo có vợ là Sồng Thị Ly và có 02 con, con thứ nhất sinh năm 2012, con thứ hai sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19 tháng 10 năm 2022 đến nay; “có mặt”.
- Bị hại: Công ty TNHH Xuân Thiện Ninh Bình; địa chỉ: Toà nhà Xuân Thiện, Khu đô thị Xuân Thành, phường Ninh Khánh, Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Minh Ch; Chức vụ: Giám đốc Ban quản lý các dự án các thủy điện- Công ty TNHH Xuân Thiện Ninh Bình, là người đại diện theo ủy quyền của bị hại, văn bản ủy quyền ngày 10/9/2012 “vắng mặt”.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ban quản lý các dự án thủy điện - Công ty TNHH Xuân Thiện Ninh Bình; người đại diện hợp pháp: ông Đinh Công T, sinh năm 1977, chức vụ: Trưởng ban hành chính- Ban quản lý các dự án thủy điện, là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (văn bản ủy quyền ngày 08/12/2022), “vắng mặt”.
+ Ông Nguyễn Đức C, sinh năm 1966; nơi cư trú: Tiểu khu 1, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, “vắng mặt”.
+ Ông Đinh Công T; nơi làm việc: Nhà máy thuỷ điện Háng Đồng B thuộc Công ty TNHH Xuân Thiện Ninh Bình; địa chỉ: Bản Suối Tọ, xã Suối Tọ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, “vắng mặt”.
- Người làm chứng:
+ Anh Phạm Hữu Th, sinh năm 1976; nơi làm việc: Nhà máy thuỷ điện Háng Đồng B thuộc Công ty TNHH Xuân Thiện Ninh Bình; địa chỉ: Bản Suối Tọ, xã Suối Tọ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
+ Anh Thào A D, sinh năm 1986; nơi làm việc: Nhà máy thuỷ điện Háng Đồng B thuộc Công ty TNHH Xuân Thiện Ninh Bình; địa chỉ: Bản Suối Tọ, xã Suối Tọ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, “vắng mặt”.
- Người phiên dịch: Ông Lò Như H, sinh năm 1957; địa chỉ: Bản Giáo 1, xã Huy Tân, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 17/10/2022, bị cáo Sồng A D đến nhà bị cáo Tráng A C rủ bị cáo C đến khu vực công trường của Nhà máy thủy điện Háng Đồng B tìm sắt thép trong khu vực công trường để trộm cắp bán lấy tiền chia nhau, bị cáo C đồng ý. Bị cáo C điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu sơn đen, lắp BKS: 26H2-9405, còn bị cáo D điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO Win, màu sơn đen, không có biển kiểm soát cùng đến khu công trường Thủy Điện Háng Đồng B. Khi đến nơi, bị cáo D và C nhìn thấy 06 bình Oxy công nghiệp, hình trụ tròn bằng kim loại, dung tích 40 lít. Quan sát không thấy có người trông coi nên mỗi người lấy trộm 01 bình rồi buộc vào xe chở đi về cất giấu ở bụi cây gần nhà. Bị cáo D và C thống nhất, bị cáo C sẽ mang 01 bình Oxy đi tìm chỗ bán trước, sau khi bán hết cả 02 bình sẽ chia nhau tiền. Khoảng 04 giờ ngày 18/10/2022, bị cáo C điều khiển chiếc xe mô tô chở 01 bình Oxy từ nhà đi theo hướng thị trấn Phù Yên để tìm chỗ bán. Khi C đi đến ngã ba bản Suối Tọ, xã Suối Tọ, huyện Phù Yên thì gặp Công an xã Suối Tọ, huyện Phù Yên dừng xe kiểm tra. Sau đó, Tráng A C và Sồng A D đã giao nộp 02 bình Oxy và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản.
Tại kết luận định giá tài sản số 25/KLĐGTS ngày 19/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phù Yên kết luận: 01 chiếc bình Oxy công nghiệp, hình trụ tròn bằng kim loại chiều cao 1,3m, đường kính 0,25m, dung tích 40 lít, màu xám có trị giá là 2.100.000 đồng; 01 chiếc bình Oxy công nghiệp, hình trụ tròn bằng kim loại chiều cao 1,45m, đường kính 0,2m, dung tích 40 lít, màu xám có trị giá là 2.100.000 đồng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá.
Với những tình tiết như trên, tại Cáo trạng số: 70/CT-VKS-PY ngày 30/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La đã truy tố các bị cáo Sồng A D và Tráng A C về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Kết thúc việc xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Sồng A D từ 9 tháng đến 12 tháng tù. Xử phạt Tráng A C 08 đến 11 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo. Về vật chứng của vụ án: Trả lại cho Ban quản lý các dự án thủy điện - Công ty TNHH Xuân Thiện Ninh Bình; địa chỉ: tiểu khu 3, thị trấn Bắc Yên, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La 01 chiếc bình Oxy công nghiệp, hình trụ tròn bằng kim loại chiều cao 1,3m, đường kính 0,25m, dung tích 40 lít, màu xám, đã qua sử dụng và 01 chiếc bình Oxy công nghiệp, hình trụ tròn bằng kim loại chiều cao 1,45m, đường kính 0,2m, dung tích 40 lít, màu xám, đã qua sử dụng. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu sơn đen có số khung, số máy RRKWCHUMAXN45887 của bị cáo Tránh A C và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO Win, màu sơn đen, không có biển kiểm soát, số khung, số máy RPEXCJ2PEKA320557 của bị cáo Sồng A D. Tịch thu tiêu hủy 01 Biển kiểm soát 26H2-9405.
Trong qua trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên.
Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gửi văn bản đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa, yêu cầu nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 02 chiếc bình Oxy công nghiệp và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại.
Kết thúc tranh luận, các bị cáo trình bày lời nói sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản, lén lút chiếm đoạt của Công ty TNHH Xuân Thiện Ninh Bình 02 chiếc bình Oxy công nghiệp. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại cũng như của những người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Sồng A D và Tráng A C đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt của Công ty TNHH Xuân Thiện Ninh Bình 02 chiếc bình Oxy công nghiệp. Căn cứ kết quả định giá tài sản thì 02 chiếc bình Oxy công nghiệp của Công ty TNHH Xuân Thiện Ninh Bình có tổng trị giá 4.200.000 đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự thì “ Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Như vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tính chất, vai trò, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là ít nghiêm trọng, gây nguy hại cho xã hội không lớn. Tuy nhiên, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ sở hữu tài sản của cá nhân, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều nhận thức được việc xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vì hám lợi trước mắt, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, cố ý phạm tội.
Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, phạm tội do bột phát. Bị cáo Sồng A D là người khởi xướng, rủ rê; bị cáo Tráng A C là đồng phạm thực hành tích cực, trực tiếp lấy 01 chiếc bình Oxy công nghiệp.
Về nhân thân người phạm tội: Các bị cáo có nhân thân tốt, là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, học vấn thấp, nhận thức pháp luật có nhiều hạn chế.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bản thân các bị cáo đều là người dân tộc ít người, học vấn thấp, nhận thức pháp luật có nhiều hạn chế. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo. Bị cáo khác không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ việc phân tích, đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt ở trên, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung, hai bị cáo đều làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo.
Về vật chứng, Đối với 02 chiếc bình Oxy công nghiệp, xác định chủ sở hữu là Công ty TNHH Xuân Thiện Ninh Bình. Người quản lý hợp pháp là Ban quản lý các dự án thủy điện - Công ty TNHH Xuân Thiện Ninh Bình. Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự, cần trả lại cho Ban quản lý các dự án thủy điện - Công ty TNHH Xuân Thiện Ninh Bình.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu sơn đen có số khung, số máy RRKWCHUMAXN45887 của bị cáo Tránh A C và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO Win, màu sơn đen, không có biển kiểm soát, số khung, số máy RPEXCJ2PEKA320557 của bị cáo Sồng A D là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Đối với chiếc Biển kiểm soát 26H2-9405 lắp ở chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave của bị cáo Tráng A C, xác định là biển số của chiếc xe mô tô nhãn hiệu GUIDA của ông Nguyễn Đức Cường. Tuy nhiên, vào năm 2006 chiếc xe của ông Cường đã bị hư hỏng nên ông Cường đã bán chiếc xe (gồm cả biển số) cho người thu mua phế liệu. Ông Cường không yêu cầu nhận lại chiếc biển số cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử cần tịch thu, tiêu hủy.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về biện pháp ngăn chặn: Do đến ngày xét xử, thời hạn tạm giam đối với hai bị cáo đã hết nên Hội đồng xét xử cần tiếp tục tạm giam hai bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
Về án phí, Các bị cáo cá nhân hộ cận nghèo, là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, các bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 17, 58 của Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Sồng A D và Tráng A C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt Sồng A D 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/10/2022 (ngày bị cáo bị bắt tạm giam). Xử phạt bị cáo Tráng A C 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/10/2022 (ngày bị cáo bị bắt tạm giam). Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với hai bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho Ban quản lý các dự án thủy điện - Công ty TNHH Xuân Thiện Ninh Bình; địa chỉ: tiểu khu 3, thị trấn Bắc Yên, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La 01 chiếc bình Oxy công nghiệp, hình trụ tròn bằng kim loại chiều cao 1,3m, đường kính 0,25m, dung tích 40 lít, màu xám, đã qua sử dụng và 01 chiếc bình Oxy công nghiệp, hình trụ tròn bằng kim loại chiều cao 1,45m, đường kính 0,2m, dung tích 40 lít, màu xám, đã qua sử dụng.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu sơn đen có số khung, số máy RRKWCHUMAXN45887 của bị cáo Tránh A C và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO Win, màu sơn đen, không có biển kiểm soát, số khung, số máy RPEXCJ2PEKA320557 của bị cáo Sồng A D.
Tịch thu tiêu hủy 01Biển kiểm soát 26H2-9405 (lắp ở chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave của bị cáo Tráng A C).
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14, 15; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Các bị cáo Sồng A D và Tráng A C được miễn nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/12/2022). Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại (nếu có); - VKSND huyện Phù Yên; Giao - Người bào chữa (nếu có); - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Cơ quan điều tra- CA huyện ; - CQ Thi hành án hình sự; Gửi - Trại TG (nhà tạm giam); - Sở tư pháp tỉnh; - Người có QL,NVLQ (nếu có); - Chi cục THADS huyện (án có hiệu lực); - Lưu: HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Tân Việt THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |