- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (điều 180 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Thanh T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2022/HS-ST Ngày: 16-5-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Phát Triển;
Ông Ngô Văn Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Vinh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Út - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2022, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2022/TLST-HS, ngày 17 tháng 02 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2021/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 77/2022/HSST-QĐ, ngày 07 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 115/2022/HSST-QĐ, ngày 28 tháng 4 năm 2022, đối với bị cáo:
Mai Thanh T, sinh năm: 1990, tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp Tân L, xã Phong H, huyện Lai V, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Văn Tr (chết) và bà Nguyễn Thị Ngọc L; Tiền sự, tiền án: không; Nhân thân: Ngày 12/4/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích”, đã chấp hành xong Bản án, đã được xóa án tích; Tạm giữ: Không; Tạm giam: Ngày 05/11/2021 đến nay. Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa cho bị cáo Mai Thanh T: Trợ giúp viên pháp lý: Ông Hà Văn N - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đồng Tháp, Chi nhánh số 1 (có mặt).
Địa chỉ: đường Nguyễn Sinh S, Khóm, Phường, thành phố Sa Đ, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị hại:
Trần Thị Kim Th - sinh năm: 1976. (vắng mặt)
Nơi cư trú: số, ấp Tân P, xã Phong H, huyện Lai V, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng:
1. Nguyễn Thành Q - sinh năm: 1990. (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp Tân P, xã Phong H, huyện Lai V, tỉnh Đồng Tháp.
2. Nguyễn Hữu H - sinh năm: 2002. (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp Tân L, xã Phong H, huyện Lai V, tỉnh Đồng Tháp.
3. Nguyễn Thành A - sinh năm: 1968. (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp Tân P, xã Phong H, huyện Lai V, tỉnh Đồng Tháp.
4. Võ Thanh P - sinh năm: 1998. (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp Tân P, xã Phong H, huyện Lai V, tỉnh Đồng Tháp.
5. Lê Minh Qu - sinh năm: 1994. (vắng mặt)
Nơi cư trú: , ấp Tân L, xã Phong H, huyện Lai V, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 04/4/2021, Mai Thanh T 03 lần một mình đi bộ đến nhà của chị Trần Thị Kim Th tại số , ấp Tân P, xã Phong H, huyện Lai V, tỉnh Đồng Tháp để tìm Q đòi tiền, do Q có nợ tiền của T, trong 03 lần T đến nhà chị Th thì T đều lớn tiếng chửi và cầm dao đe dọa chém Q nên Q đều bỏ chạy.
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô không nhớ biển số mượn của người bạn tên T1 ở xã Phong H (không rõ họ tên, địa chỉ) mang theo 01 con dao (cán dao bằng gỗ, mũi nhọn có chiều dài khoảng 60cm) giấu trong người rồi chạy đến Ngã ba xã Phong H, huyện Lai V thì gặp Nguyễn Hữu H nên T rủ H cùng đi đến nhà chị Th thì H đồng ý. Trên đường đi thì H không thấy T đem theo con dao, đồng thời T cũng không nói cho H biết mục đích đến nhà chị Th để làm gì. Khi đến nơi, T bước xuống xe còn H ngồi trên xe đợi. Lúc này, T dùng tay phải lấy cây dao giấu trong người ra rồi đi vào nhà chị Th thì thấy Nguyễn Thành Q đang uống rượu cùng với anh Nguyễn Thành A (chồng chị Th), anh Lê Minh Qu, anh Võ Thanh P nên T lớn tiếng chửi và yêu cầu Q trả tiền. Thấy T cầm dao đến, Q chạy vào nhà sau của chị Th trốn. Thấy vậy, chị Th từ trong nhà đi ra nói chuyện với T, sau đó đẩy T ra khỏi sân nhà. Do bực tức, T tiếp tục lớn tiếng chửi và dùng con dao chém vào hàng rào sắt của nhà chị Th nhưng không gây hư hỏng. Sau đó, T phát hiện nhiều trái mít để sát lề đường Quốc lộ 54 ngay trước cửa rào nhà chị Th nên T dùng dao đang cầm trên tay phải chém nhiều cái vào số mít nêu trên gây hư hỏng. Sau đó, T lên xe mô tô để H chở về nhà. Trên đường về nhà, T đã ném con dao xuống sông (hiện không thu hồi được) còn chiếc xe thì T đã trả lại cho T1.
Do số mít mà T làm hư hỏng là của chị Trần Thị Kim Th, nên đến 20 giờ 30 cùng ngày, chị Th đến Công an xã Phong H, huyện Lai V tố giác Mai Thanh T có hành vi làm hư hỏng tài sản của chị Th. Sau khi tiếp nhận tố giác của chị Th, Cơ quan công an đến hiện trường tiến hành kiểm tra xác định số mít mà T dùng dao chém làm hư hỏng gồm có 13 trái mít với tổng trọng lượng 131kg. Do đây là tài sản mau hỏng nên sau khi thực hiện xong thủ tục định giá tài sản, Cơ quan Công an đã giao trả lại cho chị Th.
Tại kết luận số 29/KL-ĐGTS ngày 08/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lai Vung kết luận: 13 trái mít có tổng trọng lượng 131kg, thiệt hại 87%, trị giá 2.397.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKSLVg, ngày 16/02/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, đã truy tố Mai Thanh T ra trước Toà án nhân dân huyện Lai Vung, để xét xử về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Mai Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung truy tố bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Khẳng định việc truy tố như Bản cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vào khoảng 20 giờ ngày 04/4/2021, tại trước hộ số , ấp Tân P, xã Phong H, huyện Lai V, tỉnh Đồng Tháp, Mai Thanh T có hành vi dùng dao chém làm hư hỏng 13 trái mít có trọng lượng 131 kg, gây thiệt hại 87%, trị giá 2.397.000 đồng của chị Lê Thị Kim Th; khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã nộp tiền khắc phục hậu quả cho bị hại, bị cáo là thành viên hộ nghèo được chính quyền địa phương xác nhận; nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, tuyên bố Mai Thanh T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, xử phạt bị cáo Mai Thanh T từ 06 tháng 11 ngày tù đến 09 tháng tù giam. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 589 của Bộ luật dân sự buộc bị cáo Mai Thanh T bồi thường cho bị hại Lê Thị Kim Th số tiền 2.397.000 đồng, bị cáo đã nộp khắc phục số tiền 2.397.000 đồng theo biên lai số 0003224 ngày 28/4/2022, để khắc phục bồi thường cho bị hại. Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Tiếp tục quản lý số tiền 2.397.000 đồng mà bị cáo Mai Thanh T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung theo biên lai số 0003224 ngày 28/4/2022, để đảm bảo thi hành án. (Hiện số tiền trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).
Đối với Nguyễn Hữu H mặc dù có đi cùng với Mai Thanh T nhưng H không biết mục đích của T đến nhà chị Th để làm gì, khi T thực hiện hành vi phạm tội H không có hô hào, cổ vũ nên hành vi của H không có dấu hiệu đồng phạm với T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nên không xem xét xử lý.
Đối với xe mô tô mà Mai Thanh T mượn của một người bạn tên T1 ở xã Phong H, huyện Lai V (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể). Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, T đã trả lại cho T1. Trong quá trình điều tra, không làm rõ được nên không xem xét xử lý.
- Người bào chữa cho bị cáo Mai Thanh T là Trợ giúp viên pháp lý ông Hà Văn N phát biểu quan điểm: Thống nhất luận tội của Kiểm sát viên đề nghị tuyên bố bị cáo Mai Thanh T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự, nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo T là thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo mức đề nghị của Kiểm sát viên, đề nghị tuyên mức hình phạt bằng thời hạn tạm giam bị cáo và trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
Bị cáo Mai Thanh T thống nhất với Bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, không tranh luận gì. Bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, bị cáo xin được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên của huyện Lai Vung trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Mai Thanh T đã có hành vi dùng dao chém nhiều cái làm hư hỏng 13 trái mít có trọng lượng 131 kg, gây thiệt hại 87%, trị giá 2.397.000 đồng của chị Lê Thị Kim Th để thỏa mãn sự tức giận; lời khai của bị cáo là phù hợp hiện trường vụ án, vật chứng thu giữ, phù hợp lời khai của bị hại, những người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó lời nhận tội của bị cáo là có căn cứ. Bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật. Nên hành vi của bị cáo Mai Thanh T có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” phạm vào khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.
Tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:....”.
Về tính chất, mức độ tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương, xâm phạm tài sản của người khác một cách trái phép, tài sản của công dân là khách thể được luật hình sự bảo vệ, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm đến, thế nhưng với ý thức xem thường pháp luật, bị cáo cố ý làm hư hỏng tài sản của bị hại. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử công khai như ngày hôm nay là cần thiết, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời nhằm mục đích giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng đã gây hoang mang cho quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, gây bất bình trong dư luận, bị cáo có nhân thân không tốt, vì vậy cần phải có mức hình phạt tương xứng đối với hành vi của bị cáo.
Đối với Nguyễn Hữu H mặc dù có đi cùng với Mai Thanh T nhưng H không biết mục đích của T đến nhà chị Th để làm gì, khi Tân thực hiện hành vi phạm tội H không có hô hào, cổ vũ nên hành vi của H không có dấu hiệu đồng phạm với T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nên không xem xét xử lý.
Đối với xe mô tô mà Mai Thanh T mượn của một người bạn tên T1 ở xã Phong H, huyện Lai V (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể). Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, T đã trả lại cho T1. Trong quá trình điều tra, không làm rõ được nên không xem xét xử lý.
Đối với bị hại Trần Thị Kim Th vắng mặt tại phiên tòa, nhưng qua các lời khai có trong hồ so vụ án chị Th trình bày: Khoảng 20 giờ ngày 04/4/2021, Mai Thanh T đã đến nhà chị và đã dùng dao chém vào nhiều trái mít của chị gây hư hỏng. Chị yêu cầu bị cáo Mai Thanh T bồi thường cho chị số tiền 2.397.000 đồng, ngoài ra không yêu cầu gì thêm.
Đối với người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, nhưng qua các lời khai có trong hồ sơ đều phù hợp và đúng như nội dung vụ án.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, đã nộp tiền khắc phục hậu quả cho bị hại, bị cáo là thành viên hộ nghèo được chính quyền địa phương xác nhận, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên đề nghị giải quyết nội dung vụ án này là đúng quy định pháp luật, Hội đồng xét xử đồng ý với quan điểm của Kiểm sát viên.
Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:
Tiếp tục quản lý số tiền 2.397.000 đồng mà bị cáo Mai Thanh T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung theo biên lai số 0003224 ngày 28/4/2022, để đảm bảo thi hành án.
(Hiện số tiền trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Lê Thị Kim Th yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 2.397.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, nên cần ghi nhận sự thỏa thuận này là phù hợp quy định pháp luật.
Bị cáo Mai Thanh T đã nộp khắc phục ố tiền 2.397.000 đồng để bồi thường cho bị hại Lê Thị Kim Th theo biên lai thu tiền số 0003224 ngày 28/4/2022, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung.
Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo Mai Thanh T yêu cầu được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm, vì gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, yêu cầu của bị cáo là có căn cứ cần chấp nhận là phù hợp theo quy định tại Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và bị hại được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Mai Thanh T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Xử phạt bị cáo Mai Thanh T - 06 (sáu) tháng 11 (mười một) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/11/2021. Bị cáo đã bị tạm giam bằng với mức án đã tuyên, nên trả tự do cho bị cáo Mai Thanh T tại phiên tòa.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự và Điều 589 của Bộ luật dân sự tuyên:
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Mai Thanh T là bị cáo Mai Thanh T có nghĩa vụ bồi thường số tiền 2.397.000 đồng cho Lê Thị Kim Th.
Bị cáo Mai Thanh T đã nộp khắc phục 2.397.000 đồng để bồi thường cho bị hại Lê Thị Kim Th theo biên lai thu tiền số 0003224 ngày 28/4/2022, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung. Khi Bản án có hiệu lực pháp luật bị hại Lê Thị Kim Th đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung để nhận lại số tiền này.
(Số tiền hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).
3. Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:
Tiếp tục quản lý số tiền 2.397.000 đồng mà bị cáo Mai Thanh T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung theo biên lai số 0003224 ngày 28/4/2022, để đảm bảo thi hành án.
(Hiện số tiền trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Mai Thanh T được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và bị hại được kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 16/5/2022. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính 15 ngày từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐT; - VKSND tỉnh ĐT; - VKSND H.Lai Vung; - CCTHA-DS H.Lai Vung; - Cơ quan điều tra H. Lai Vung; - Cơ quan THAHS H. Lai Vung; - Sở tư pháp; - Bị cáo, đương sự; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cẩm Nhung |