- Tranh chấp gì? án hình sự — "HUYNH TUAN H - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2022/HS-ST Ngày: 13-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Thanh Bình
2/ Ông Võ Thanh Nhàn
Thư ký phiên toà: Bà Châu Nguyễn Thanh Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Vân – Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 284/2021/TLST - HS ngày 29 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 252/2021/QĐXXST – HS ngày 29 tháng 11 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 160/QĐ-HSST ngày 30/12/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Tuấn H; Giới tính: Nam; Sinh năm 1987, tại tỉnh A; nơi ĐKHKTT: Khu vực X, thị trấn N, huyện M, tỉnh A; Chỗ ở: Như trên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Huỳnh Văn U, sinh năm 1939; họ tên mẹ: Võ Thị G (chết); hoàn cảnh gia đình: Bị cáo có vợ tên Khúc Thị K, sinh năm 1992, có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 04/6/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm về tội “Chống người thi hành công vụ” (Án số 89/2015/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù cho hưởng án treo vào ngày 05/6/2017, theo Giấy chứng nhận số 20/GCN-THAHS của Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Đức Hòa, tỉnh Long An; đóng án phí vào ngày 15/7/2015, theo Biên lai thu tiền số 3402 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 13/4/2021, bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phan Phi P, sinh năm: 1985 (vắng mặt).
Nơi cư trú: 402A chung cư C, phường B, quận L, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 05 giờ 45 phút ngày 13/4/2021, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Chức vụ Công an huyện Bình Chánh phối hợp với Công an xã Phạm Văn Hai tuần tra địa bàn. Khi đến trước địa chỉ nhà số 7A223 ấp 7, xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, lực lượng tuần tra phát hiện xe ô tô biển số 67A – 119.87 do Huỳnh Tuấn H điều khiển có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện thu giữ trên xe ô tô gồm 7.200 bao thuốc lá hiệu Jet và 1.800 bao thuốc lá hiệu Hero mà H khai nhận số thuốc lá trên là do H vận chuyển thuê cho người khác. Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng, đưa H về trụ sở làm việc để lập hồ sơ ban đầu. Sau đó, vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh để điều tra, xử lý.
Căn cứ công văn số 78/CV-2020 HHTLVN ngày 16/4/2021 của Hiệp hội thuốc lá Việt Nam xác định: 02 mẫu cây thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet và Hero thu giữ của Huỳnh Tuấn H là thuốc lá điếu nhập lậu.
Quá trình điều tra xác định: Do không có việc làm nên Hạnh liên lạc với bạn là Đặng Thanh V (tên thường gọi “Chó con”), tại khu vực 1, thị trấn Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An để nhờ tìm việc làm thì V hỏi H “Chạy xe thuốc lá không”, H đồng ý và thỏa thuận tiền công vận chuyển là 600.000 đồng/chuyến.
Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 13/4/2021, V đến nhà chở H đi đến khu vực ấp 6, xã Mỹ Thạnh Đông, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An để H lấy thuốc lá giao cho thanh niên tên “B” (không rõ lai lịch) ở khu vực xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, H đồng ý. Trên đường H vận chuyển thuốc lá để giao cho Bình thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Ngoài ra, Huỳnh Tuấn H còn khai nhận V đã thuê H vận chuyển thuốc lá giao cho B 01 lần vào ngày 12/4/2021. Cụ thể như sau: Vào khoảng 22 giờ ngày 12/4/2021, V liên lạc kêu H đi giao thuốc lá cho thanh niên tên “B” (không rõ lai lịch) ở khu vực xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, H đồng ý. V điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở H đến khu vực ấp 6, xã Mỹ Thạnh Đông, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Tại đây, H thấy có 01 xe ô tô Hyndai Accent biển số 67A – 119.87 đỗ bên lề đường, không người trông coi, V kêu H điều khiển xe ô tô này đến bãi đất trống gần khu vực ngã ba Chân Tóc, xã Mỹ Quý Tây, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An để chở thuốc lá điếu. Khi H điều khiển xe ô tô đến địa điểm trên, H dừng xe ô tô lại, ngồi trong xe thì có khoảng 07 đến 08 người đàn ông (không rõ lai lịch) chất thuốc lá các loại lên xe ô tô. Sau khi thuốc lá được chất lên xe ô tô xong, H điều khiển xe đi được một đoạn thì H gặp V chạy xe mô tô (không rõ biển số) dẫn đường cho H. Khi cả hai đi được một đoạn khoảng 05km thì gặp Lương Hoàng Thi T (chủ thuốc lá) điều khiển xe ô tô (không rõ biển số) đi cùng Võ Chí A chạy phía sau áp tải hàng. T kêu H điều khiển xe đi trước, T và V điều khiển xe phía sau rồi cả hai bỏ đi đâu không rõ. Khi H điều khiển xe đến khu vực Cầu Lớn thuộc ấp 7, xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh thì H gọi điện cho người đàn ông tên “E” sử dụng sim số xxx.xxx.xx.xx để dẫn đường cho H đi giao thuốc lá cho B. Lúc này, “E” điều khiển xe mô tô loại Wave màu trắng (không rõ biển số) dẫn đường cho H giao thuốc lá cho B tại khu vực Ngã Ba Giồng, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn (không rõ địa chỉ). Tại đây, có một nhóm thanh niên chất thuốc lá xuống cho B, còn H vẫn ngồi trên xe ô tô. Sau đó, B đi ra đưa cho H 01 bao nylon bên trong đựng tiền (không rõ bao nhiêu) và kêu H cầm về giao cho T. Trên đường H điều khiển xe ô tô về đến khu vực thị trấn Hậu Nghĩa, tỉnh Long An thì có 01 thanh niên (không rõ lai lịch) điều khiển xe mô tô chạy sát xe ô tô của H kêu đưa tiền hàng để giao cho T. Do T có liên lạc báo H biết có người đến gặp H để lấy tiền nên H giao cho thanh niên này. Sau khi giao tiền xong, H tiếp tục điều khiển xe ô tô về nơi xe ô tô đậu trước đó tại khu vực ấp 6, xã Mỹ Thạnh Đông, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An, để xe ô tô ở vị trí ban đầu rồi V điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở H về nhà, nhưng V chưa trả tiền công cho H do V kêu H chở thêm 01 chuyến nữa rồi V sẽ trả tiền công 02 chuyến cho H. Khi H vận chuyển chuyến thứ hai thì bị bắt quả tang như đã nêu trên.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn đưa H chỉ điểm nơi giao nhận thuốc lá cho đối tượng B tại trước địa chỉ 7/2 ấp 5, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn. Kết quả xác minh, địa chỉ căn nhà nêu trên do Nguyễn Văn B là chủ hộ. Tại thời điểm kiểm tra, B không có ở nhà, Cơ quan Công an phát hiện mái hiên bên trái của hông nhà của B có tổng cộng 13.090 bao thuốc lá ngoại nhập lậu các loại hiệu “555”, Jet, Rich Mond, Esse màu trắng, Esse Golden Leaf. Qua làm việc, B không biết số thuốc lá bên hông hiên nhà B là của ai do diện tích đất nhà rộng, không có rào, xung quanh nhà là ruộng. B không quen biết H, không biết và không liên quan đến số thuốc lá bị thu giữ bên hông nhà của B. Khi giao thuốc lá gần khu vực nhà của B, do H ngồi trên xe ô tô, không mở đèn xe ô tô nên không nhận dạng được Nguyễn Văn B.
Vật chứng trong vụ án gồm:
7.200 (bảy nghìn hai trăm) bao thuốc lá ngoại nhãn hiệu Jet.
1.800 (một nghìn tám trăm) bao thuốc lá ngoại nhãn hiệu Hero.
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia.
01 xe ô tô biển số 67A – 119.87: Qua xác minh, xe ô tô này do ông Phan Phi P đứng tên chủ sở hữu. Anh P ký hợp đồng cho bà Nguyễn Thị Mỹ M là Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Vận tải và Du lịch Gia Việt Car thuê xe ô tô trên trong thời gian 06 tháng. Qua làm việc, chị M ký hợp đồng với Võ Chí A thuê lại xe ô tô biển số 67A – 119.87 với thời gian 30 ngày kể từ ngày 26/3/2021. Kết quả xác minh A đã bỏ địa phương đi đâu không rõ.
Tại bản Cáo trạng số 216/CT - VKS ngày 22 tháng 11 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Huỳnh Tuấn H về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b Khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Huỳnh Tuấn H đã thừa nhận hành vi phạm
tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh truy tố bị cáo. Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm có cơ hội làm lại cuộc đời.
Tại phiên tòa hôm nay, Vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích tính chất của vụ án những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Tuấn H từ 06 năm đến 07 năm tù về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b Khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), phạt bổ sung bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định.
Ông Phan Phi P vắng mặt tại tòa dù đã được triệu tập hợp lệ, lời khai tại Cơ quan điều tra ông đề nghị được nhận lại xe ô tô biển số 67A – 119.87 và không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Huỳnh Tuấn H tại tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra (BL: 191 - 204); phù hợp với nội dung Cáo trạng truy tố. Vụ án còn được chứng minh qua hoạt động điều tra như Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản lấy lời khai, thu giữ vật chứng, kết luận giám định vật chứng, cùng các chứng cứ tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
[3] Vào lúc 05 giờ 45 phút ngày 13/4/2021, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Chức vụ Công an huyện Bình Chánh phối hợp với Công an xã Phạm Văn Hai tuần tra địa bàn. Khi đến trước địa chỉ nhà số 7A223 ấp 7, xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, lực lượng tuần tra phát hiện xe ô tô biển số 67A – 119.87 do bị cáo điều khiển có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện thu giữ trên xe ô tô bị cáo đang điều khiển gồm 7.200 bao thuốc lá hiệu Jet và 1.800 bao thuốc lá hiệu Hero mà H khai nhận số thuốc lá trên là do H vận chuyển thuê cho Đặng Thanh V để lấy tiền công với giá 600.000 đồng một chuyến (bị cáo chưa nhận được tiền).
Căn cứ kết luận số 78/CV-2021 HHTL-VN ngày 16/4/2021 của Hiệp hội thuốc lá Việt Nam kết luận: 02 mẫu cây thuốc lá các nhãn hiệu: Hero và Jet do Cơ quan cung cấp là thuốc lá điếu nhập lậu.
[4] Với những tình tiết được chứng minh tại phiên tòa hôm nay có đủ cơ
sở kết luận hành vi của bị cáo Huỳnh Tuấn H đã phạm vào tội "Vận chuyển hàng cấm" tội phạm được quy định tại Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); nên Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
[5] Tội phạm bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế được pháp luật và Nhà nước Việt Nam bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị, kinh tế, xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc làm của mình là bị pháp luật cấm nhưng do tính tư lợi cá nhân muốn có tiền tiêu xài cho bản thân nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Do đó, khi lượng hình cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian dài thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
[6] Tổng số lượng thuốc lá điếu nhập lậu bị cáo vận chuyển là 9.000 bao (7.200 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet, 1.800 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Hero), đây là tình tiết định khung hình phạt, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b Khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để xét xử và có mức án nghiêm đối với bị cáo.
[7] Về nhân thân bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 04/6/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm về tội “Chống người thi hành công vụ” (Án số 89/2015/HSST). Do đó, khi lượng hình Hội đồng xét xử lưu ý đến nhân thân của bị cáo mà có mức án nghiêm.
[8] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi lượng hình Hội đồng xét xử cân nhắc đến tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo và đã tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu, là thành phần lao động nghèo, gia đình khó khăn. Bị cáo là lao động chính trong đình, có cha là ông Huỳnh Văn U là người có công với cách mạng được tặng nhiều Giấy khen trong kháng chiến chống Mỹ, hiện là bệnh binh và thương binh loại A. Với những tình tiết giảm nhẹ nêu trên Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt được quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
[9] Đối với hành vi bị cáo vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu vào ngày 12/4/2021 giao cho Bình tại khu vực xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn. Quá trình điều tra không thu giữ được số lượng thuốc lá chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo, ngoài ra không có chứng cứ nào khác để chứng minh vấn đề này, nên theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo thì không có căn cứ để xét xử bị cáo phạm tội hai lần trở lên là phù hợp.
[10] Đối với Nguyễn Văn B quá trình điều tra B khai nhận không quen biết bị cáo, không biết và không liên quan đến số thuốc lá do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn phát hiện, thu giữ bên hông nhà của B. Bị cáo không nhận dạng được Nguyễn Văn B. Do hết thời hạn điều tra nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh không đủ căn cứ nhập chung vụ án để xử lý đối với B trong vụ án này. Tuy nhiên, vụ việc đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn ra Quyết định khởi tố vụ án, đang củng cố chứng cứ và tiếp tục điều tra giải quyết theo thẩm quyền bằng một vụ án khác, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[11] Đối với Lương Hoàng Thi T, Đặng Thanh V: Quá trình điều tra bị cáo H khai T và V có hành vi cùng tham gia, áp tải xe ô tô do H vận chuyển thuốc lá. Tuy nhiên, qua xác minh, T và V không có mặt tại địa phương nên chưa lấy lời khai của T và V được. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm đối tượng T và V, khi nào tìm được sẽ xử lý sau, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[12] Đối với Võ Chí A là người thuê lại xe ô tô biển số 67A – 119.87: Qua xác minh hiện A không có mặt tại địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa làm việc được với A nên đã ra thông báo truy tìm đối với A, khi nào tìm được sẽ xử lý sau, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[13] Đối với sim số điện thoại xxx.xxx.xxxx của A và sim số điện thoại xxx.xxx.xxxx của “E” sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã yêu cầu Tổng Công ty Viễn thông Mobiphone và Vinaphone cung cấp thông tin chủ thuê bao nhưng đến nay chưa có kết quả nên không có cơ sở để xử lý.
[14] Vật chứng của vụ án:
Đối với 7.200 (bảy nghìn hai trăm) bao thuốc lá ngoại nhãn hiệu Jet; 1.800 (một nghìn tám trăm) bao thuốc lá ngoại nhãn hiệu Hero, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành sẽ tịch thu tiêu huỷ theo điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Đối với 01 xe ô tô biển số 67A – 119.87. Quá trình điều tra xác định, xe ô tô này do ông Phan Phi P đứng tên chủ sở hữu. Ông P ký hợp đồng cho bà Nguyễn Thị Mỹ M là Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Vận tải và Du lịch Gia Việt Car thuê xe ô tô trên trong thời gian 06 tháng. Qua làm việc, bà M ký hợp đồng với Võ Chí A thuê lại xe ô tô biển số 67A – 119.87 với thời gian 30 ngày kể từ ngày 26/3/2021. Kết quả xác minh A đã bỏ địa phương đi đâu không rõ. Đây là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông P, việc bị cáo dùng xe của ông P làm phương tiện phạm tội ông P không biết nên không có lỗi, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên giao trả xe này lại cho ông P là phù hợp.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia là tài sản của bị cáo nhưng bị cáo dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[15] Về hình phạt bổ sung: Ở loại tội phạm này, ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), phạt bị cáo một khoản tiền để sung vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp.
[16] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b Khoản 3, Khoản 4 Điều 191; điểm s Khoản 1, Khoản 2
Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Căn cứ điểm a Khoản 2, điểm b Khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136, Điều 299, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Tuấn H 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2021.
Phạt bổ sung bị cáo Huỳnh Tuấn H số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
Việc bị cáo nộp số tiền phạt nêu trên phải được thực hiện ngay khi bản
án có hiệu lực pháp luật.
Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 7.200 (bảy nghìn hai trăm) bao thuốc lá ngoại nhãn hiệu Jet; 1.800 (một nghìn tám trăm) bao thuốc lá ngoại nhãn hiệu Hero.
Trả lại cho ông Phan Phi P 01 ô tô hiệu HYUNDAI, loại ACCENT 1.4 màu trắng, biển số 67A – 119.87, số máy: G4LCKF712388, số khung: RLUA441BBKN024861.
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia.
(các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh theo Phiếu nhập kho số 35/PNK ngày 19/11/2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh).
Về án phí: Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn
15 (mười lăm) ngày, tính kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, tính kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND H.BC; - CA H. BC; - Chi cục THADS H.BC; - Sở Tư pháp, TP. HCM; - Phòng hồ sơ, CA TP. HCM PV06; - Trại tạm giam đang giam, giữ bị cáo; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Hoàng Sơn |