vanban.org

Bản án 17/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 07/04/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Ly L. Cho chị Huỳnh Ly L ly hôn với anh Lương Vĩnh T.

Về án phí: Chị Huỳnh Ly L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị L đã nộp theo biên lai số 0001704 ngày 06/5/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang, xem như đã nộp xong án phí. Về quyền kháng cáo: Chị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Ly L - Lương Vĩnh T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Ly L. Cho chị Huỳnh Ly L ly hôn với anh Lương Vĩnh T.
  • Căn cứ chính? Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 07-4-2022
V/v tranh chấp: “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thu Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Kiếm Quang.

Bà Nguyễn Thị Đấu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công Danh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2021/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2021 về tranh chấp “Xinly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Ly L, sinh năm 1991 (xin vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Anh Lương Vĩnh T, sinh năm 1973 (vắng mặt);

Quốc tịch: Hoa Kỳ;

Địa chỉ: Hoa Kỳ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 19/4/2021, bản tự khai ngày 19/4/2021 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn – chị Huỳnh Ly L trình bày:

Chị và anh Lương Vĩnh T quen nhau qua mạng xã hội Zalo. Anh chị chung sống với nhau từ ngày 21/01/2019, có tổ chức lễ cưới tại ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T ngày 21/01/2019. Quá trình chung sống, giữa anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Vì không hợp nhau nên anh Lương Vĩnh T trở về Hoa Kỳ sinh sống, chị vẫn ở lại Việt Nam, 02 năm nay anh chị không liên lạc với nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về hôn nhân: Chị xin được ly hôn với anh Lương Vĩnh T.

- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có.

* Bị đơn – anh Lương Vĩnh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ “Thông báo thụ lý vụ án” theo quy định tại khoản 1 Điều 474 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh T không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Ly L và vắng mặt không rõ lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Ly L. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị L trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét. Chị L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là tranh chấp “Xin ly hôn” theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Bị đơn – anh Lương Vĩnh T có quốc tịch Hoa Kỳ và đang cư trú tại nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm c khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Quá trình giải quyết vụ án, chị Huỳnh Ly L có đơn đề nghị vắng mặt với lý do bận công việc, được Tòa án chấp nhận. Anh Lương Vĩnh T đã được tống đạt hợp lệ “Thông báo thụ lý vụ án” bằng hình thức ủy thác tư pháp nhưng anh T không gửi bản tự khai trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị L, không cung cấp chứng cứ và vắng mặt không rõ lý do. Vì vậy, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh T, chị L theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; đồng thời căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ để làm cơ sở giải quyết vụ án.

. Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Ly L, Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Về hôn nhân: Chị Huỳnh Ly L và anh Lương Vĩnh T tự nguyện kết hôn vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01 ngày 21/01/2019, nên quan hệ hôn nhân của chị L và anh T là hôn nhân hợp pháp.

Theo lời trình bày của chị L, sau khi cưới, chị và anh T chỉ sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vì không hợp nhau nên anh T trở về Hoa Kỳ sinh sống còn chị vẫn ở lại Việt Nam, hai năm nay anh chị không liên lạc với nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị L yêu cầu được ly hôn với anh T.

Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị L và anh T là có thật và đã trở nên trầm trọng không có khả năng hàn gắn, thời gian sống ly thân đã lâu, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị L yêu cầu được ly hôn với anh T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị L khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

. Về chi phí tố tụng: Chị L đã nộp và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273, khoản 1 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Ly L. Cho chị Huỳnh Ly L ly hôn với anh Lương Vĩnh T.

2. Về án phí: Chị Huỳnh Ly L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị L đã nộp theo biên lai số 0001704 ngày 06/5/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang, xem như đã nộp xong án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Chị Huỳnh Ly L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Đối với anh Lương Vĩnh T, thời hạn kháng cáo là 01 tháng tính từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ