- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn P
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2022/HNGĐ-ST Ngày: 18 tháng 11 năm 2022 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ Pên toà: Bà Lê Thị Thanh Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Bá Sơn và ông Nguyễn Văn Hữu
- Thư ký Pên toà: Bà Nguyễn Thị Trang Dung, Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện VKSND huyện Thạch Hà tham gia Pên toà: Bà Nguyễn Thị Tâm, Kiểm sát viên.
Vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 18 tháng 11 năm 2022, tại hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh mở Pên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 85/2022/TLST-HNGĐ, ngày 07/10/2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 01 tháng 11 năm 2022, giữa:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm: 1990; địa chỉ: Thôn C, xã T huyện H, tỉnh H. Nghề nghiệp: Công nhân (có mặt tại phiên tòa)
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm: 1980; địa chỉ: Thôn H, xã T huyện H, tỉnh H. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Bị đơn là người bị bệnh tâm thần (vắng mặt tại phiên tòa)
Người đại diện của bị đơn: Ông Nguyễn Văn L (bố đẻ), sinh năm 1951. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trú tại: Thôn H, xã T huyện H, tỉnh H (có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Văn P kết hôn vào ngày 30/3/2017 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T huyện H trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được khoảng 3 tháng thì xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, cãi vả, không thể hòa hợp được. Sau đó, chị T bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống và đi làm công nhân ở miền nam, vợ chồng đã sống ly thân từ khoảng tháng 7 năm 2017 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh P.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn L là bố đẻ anh Nguyễn Văn P phản ánh:
Về hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Văn P kết hôn hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị T và anh P cùng sống chung với gia đình ông được một thời gian ngắn (khoảng 1 tháng) thì chị T bỏ về nhà mẹ đẻ cho đến nay, không còn liên lạc gì với anh P cũng như gia đình ông nữa. Nay chị T làm đơn ly hôn, ông L cũng nhất trí, đề nghị tòa án giải quyết.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng chị T và anh P không có con chung, không có tài sản chung hay nợ chung gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, ông L cũng trình bày thêm: Hiện nay anh Nguyễn Văn P là người bị bệnh tâm thần được chẩn đoán bị tâm thần phân liệt, được hưởng trợ cấp của Ủy ban nhân dân huyện H. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã giải thích cho gia đình về việc đưa anh P đi giám định tâm thần. Tuy nhiên, gia đình ông từ chối giám định, cam kết chịu trách nhiệm về việc từ chối này. Mặt khác, do chị T và anh P không có con chung, không có tài sản chung, nợ chung, chỉ giải quyết về phần tình cảm, trong khi thực tế vợ chồng đã sống ly thân hơn 5 năm nay, gia đình cũng mong tòa giải quyết cho hai cháu được ly hôn nên không đề nghị Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hà Tĩnh bảo vệ quyền và lợi ích cho anh P; đồng thời ông Lợi đề nghị được tự mình bảo vệ quyền lợi cho anh P. Vì vậy, Tòa án đã chỉ định ông Nguyễn Văn Lợi làm người đại diện hợp pháp cho anh Nguyễn Văn P.
Kết quả xác minh tại UBND xã Thạch Thắng: Ông Phan Văn Châu – Cán bộ tư pháp và bà Bùi Thị Kiều – Cán bộ văn hóa – xã hội xã Thạch Thắng cho biết: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Văn P có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thạch Thắng vào ngày 30/3/2017. Chị T và anh P hiện không sống chung với nhau. Chị T nộp đơn xin ly hôn với anh P thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật
Anh Nguyễn Văn P hiện nay đang bị bệnh tâm thần được hưởng trợ cấp của UBND huyện Thạch Hà 540.000đ/tháng.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến tại phiên toà hôm nay: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại các Điều 48, 49, 51 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, trình tự thủ tục thu thập chứng cứ đúng pháp luật. Nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ kịp thời các tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án; có bản tự khai thể hiện đầy đủ ý kiến của mình về các vấn đề liên quan của vụ án.
Bị đơn là người bị bệnh tâm thần, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã yêu cầu gia đình đưa anh P đi giám định về tình trạng và mức độ bệnh tật nhưng gia đình anh P không đồng ý mà yêu cầu Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Nhận thấy, anh Nguyễn Văn P là người có nhược điểm về thể chất và tâm thần, không thể tham gia tố tụng. Vì vậy, Tòa án chỉ định ông Nguyễn Văn L là bố đẻ của anh P làm người đại diện theo pháp luật của anh Nguyễn Văn P trong vụ án ly hôn với chị Trần Thị T.
Anh Nguyễn Văn P là người bị bệnh tâm thần, chị Trần Thị T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên đây là vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 điều 207 BLTTDS.
Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù bị đơn và đại diện hợp pháp của bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn xin xử vắng mặt nên theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về nội dung: Qua nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội xử:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T về việc ly hôn anh Nguyễn Văn P
+ Về con chung: Không có
+ Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
+ Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại Pên toà và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn; bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã T huyện H, tỉnh H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tư cách tham gia tố tụng và thủ tục tố tụng: Căn cứ kết quả xác minh và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Anh Nguyễn Văn P hiện đang bị tâm thần, được hưởng trợ cấp của UBND huyện Thạch Hà 540.000đ/tháng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã yêu cầu gia đình đưa anh P đi giám định về tình trạng và mức độ bệnh tật nhưng gia đình anh P không đồng ý mà yêu cầu Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Nhận thấy, anh Nguyễn Văn P là người có nhược điểm về thể chất và tâm thần, không thể tham gia tố tụng. Vì vậy, Tòa án chỉ định ông Nguyễn Văn Lợi là bố đẻ của anh P làm người đại diện theo pháp luật của anh Nguyễn Văn P trong vụ án ly hôn với chị Trần Thị T.
Quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Anh Nguyễn Văn P là người bị bệnh tâm thần, chị Trần Thị T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên đây là vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 điều 207 BLTTDS.
Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù bị đơn và người đại diện hợp pháp của bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn xin xử vắng mặt nên theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Trần Thị T và anh Nguyễn Văn P là hợp pháp, tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng chỉ diễn ra trong thời gian ngắn. Sau khi kết hôn được thời gian từ 1 đến 3 tháng thì chị T về nhà mẹ đẻ sinh sống, sau đó đi làm công nhân ở niềm nam, vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau nữa. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh P đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn P.
Về con chung: Không có
Về tài sản chung: Các bên đương sự đều trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 điều 39, Điều 91, Điều 96, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, Điều 235; Điều 266 BLTTDS; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; 57 Luật hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn P
2. Về quan hệ con chung: Không có
3. Về án phí: Chị Trần Thị T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai số 0009882 ngày 07/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn, người đại diện hợp pháp của bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện Thạch Hà; - Chi cục THA Dân sự huyện Thạch Hà; - UBND xã Thạch Thắng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa Pên tòa Lê Thị Thanh Huệ |