vanban.org

Bản án 17/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vu an ly hon giữa H và H"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHƯỚC
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 27/5/2022
V/v tranh chấp “xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Khanh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Dũ

Bà Trần Thị Thu Thảo

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Thành – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước không tham gia

phiên tòa.

Trong ngày 27 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân

Phước mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số

14/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2022 về tranh chấp "xin ly hôn”,

theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2022/QĐXX-ST ngày 27 tháng 4 năm

2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2022/QĐST-HNGĐ ngày 12/5/2022,

giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1983

Địa chỉ: Ấp 1, xã T, huyện T, tỉnh T.

2. Bị đơn: Anh Trần Thanh H, sinh năm 1978

Địa chỉ: Ấp 1, xã T, huyện T, tỉnh T.

- Chị H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

- Anh H vắng mặt không lý do dù được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai cùng ngày 20/12/2021 nguyên đơn chị

Phạm Thị H trình bày: Tôi và anh Trần Thanh H cưới nhau vào năm 2004, có

quen biết tìm hiểu trước và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện

T. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Lý

do, do anh H có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, không chăm lo gia

đình, vợ con, tôi đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh H vẫn không sửa chữa, không muốn hàn gắn, nên tôi không thể tiếp tục chung sống với anh H được nữa và ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Về con chung: Có 02 con chung là Trần Thị N, sinh ngày 01/7/2001 đã thành niên và Trần Thị Thanh T, sinh ngày 02/10/2012, hiện do tôi đang nuôi.

Nay tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Trần Thanh

H; Về con chung: yêu cầu tiếp tục nuôi con chung là cháu T, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung; không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: không có.

Ngày 27/4/2022 nguyên đơn chị Phạm Thị H có đơn đề nghị Tòa án xét

xử vắng mặt.

- Bị đơn anh anh Trần Thanh H đã được Tòa án thông báo về yêu cầu

khởi kiện của chị H và cũng được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để hòa giải nhưng anh H vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản, ý kiến trả lời theo thông báo của Tòa án.

* Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn chị Phạm Thị H và bị đơn anh Trần Thanh H vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Hội đồng xét thấy theo đơn khởi kiện và yêu cầu của chị

Phạm Thị H tại phiên tòa, thì chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Phước giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Thanh H. Anh Trần Thanh H hiện cư trú tại ấp 1, xã T, huyện T, tỉnh T. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước theo qui định tại Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp "Ly hôn" qui định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn chị Phạm Thị H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn anh Trần Thanh H không có yêu cầu phản tố và đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để xét xử nhưng anh H vẫn vắng mặt hai lần không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227 và khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn chị Phạm Thị H và bị đơn anh Trần Thanh H.

Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên tòa hôm nay chị Phạm Thị H yêu

cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Thanh H. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị H. Hội đồng xét xử xét thấy chị H và anh H có quen biết tìm hiểu trước và cưới nhau vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T. Anh, chị chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chị H xác định do anh H có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, không chăm lo gia đình, vợ con, chị đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh H vẫn không sửa chữa, không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vợ chồng chính thức ly thân từ năm 2019 cho đến nay, thời gian ly thân vợ chồng không hàn gắn được gì. Hội đồng xét xử xét thấy thực tế thời gian ly thân của chị H và anh H từ năm 2019 đến nay cũng đã lâu, trong thời gian ly thân nhau, chị H và anh H cũng không có một động thái nào để hàn gắn tình cảm vợ

chồng. Quá trình giải quyết vụ án chị H cương quyết được xin ly hôn đối với

anh H vì tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Bị

đơn anh Trần Thanh H đã được Tòa án thông báo về yêu cầu khởi kiện của chị

H và cũng được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để hòa giải nhưng anh H vẫn

vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản, ý kiến trả lời theo thông báo

của Tòa án. Anh H đã được Tòa án thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra

việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ nhưng anh vẫn không có ý kiến.

Như vậy chứng tỏ anh H đã không còn tình cảm đối với chị H. Vì vậy, Hội

đồng xét xử xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh H là đã trầm trọng,

không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điều 56

của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh

Trần Thanh H là phù hợp.

Về con chung: Chị H và anh H có 02 chung là Trần Thị N, sinh

ngày 01/7/2001 đã thành niên và Trần Thị Thanh T, sinh ngày 02/10/2012, hiện

đang sống với chị H. Quá trình giải quyết vụ án chị H yêu cầu tiếp tục nuôi con

chung là cháu T. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi ly thân nhau cho đến nay, cháu

T hiện đang sống với chị H ổn định. Chị H cũng có điều kiện nuôi dạy con tốt.

Quá trình giải quyết vụ án anh H vắng mặt và không có ý kiến tranh chấp gì về

việc nuôi con chung, như vậy là anh H mặc nhận theo yêu cầu của chị H. Lời

khai của cháu T cũng yêu cầu được sống với mẹ. Do đó Hội đồng xét xử xét

thấy cần tiếp tục giao cho chị H tiếp tục nuôi một con chung giữa chị và anh H

là phù hợp, đảm bảo cuộc sống cho cháu T.

Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án chị H không yêu

cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Chị H xác định không có, không yêu cầu Tòa án

giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Chị H xác định không có nên Hội đồng xét xử không

đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo qui định

tại Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy

định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia

đình.

- Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố

tụng dân sự.

- Căn cứ Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy

định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

- Chấp nhận cho chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Trần Thanh H.

2. Về con chung:

- Giao cho Phạm Thị H được tiếp tục nuôi một con chung giữa chị

và anh Trần Thanh H là cháu Trần Thị Thanh T, sinh ngày 02/10/2012.

Anh Trần Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Phạm Thị H

chưa có yêu cầu.

Anh Trần Thanh H có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con

chung không ai được quyền tranh cản.

3. Về án phí:

Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm,

được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu số 0002934 ngày 17/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, xem như chị H thi hành xong tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Chị H và anh H được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15

ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết công khai, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ