vanban.org

Bản án 17/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Võ Thị C.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị C được ly hôn với ông Nguyễn Phi L. Về con chung: Giao cho bà Võ Thị C tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Nguyễn Thị Ng – Sinh ngày 26/3/2007. Ông Nguyễn Phi L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "C-L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Võ Thị C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐÔNG H
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 30/3/2022
Về việc “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG H, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Tấn Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Thanh Khảnh;

2. Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ý Ng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông H, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông H tham gia phiên tòa: Bà Doãn Thị Hoài – Kiểm sát viên.

Ngày 30/3/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông H xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 243/2021/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2022/QĐXX-ST ngày 28 tháng 02 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2022/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2022; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị C – Sinh năm: 1972;

Nơi cư trú: Khu phố T, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Phi L – Sinh năm: 1970;

Nơi cư trú: Khu phố T, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.

NỘI L VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản H giải bà C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà C và ông L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) H, huyện T (nay là thị xã Đ), tỉnh Phú Yên vào năm 1997.

Sau khi kết hôn, bà C, ông L chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian, đến khoảng tháng 11 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, ông L hay rượu chè về chửi mắng, đánh đập vợ con, gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên giải để vợ chồng H thuận nhưng không thành. Cuối năm 2020 đến nay cả hai không còn sống chung, không ai quan tâm đến ai. Nay bà C nhận thấy tình cảm đã hết, mâu thuẫn không thể hàn gắn nên xin được ly hôn ông L.

- Về con chung: Bà C, ông L có 03 con chung Nguyễn Thị H, sinh năm 1997; Nguyễn C T, sinh năm 2001 và Nguyễn Thị Ng, sinh ngày 26/3/2007. Các con hiện do bà C trực tiếp nuôi dưỡng. Nay ly hôn, bà C xin tiếp tục nuôi Nguyễn Thị Ng và tự nguyện không yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với Nguyễn Thị H và Nguyễn C T đều đã trưởng thành, có cuộc sống riêng nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn ông Nguyễn Phi L đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không lý do nên không tiến hành H giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết vụ án:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử, Thẩm phán đã xác định đúng mối quan hệ tranh chấp, xác định đúng tư cách pháp lý của các đương sự, chấp hành đúng trình tự, thủ tục thu thập tài liệu, chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký cũng đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà C; về con chung: Giao cho bà C tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ng; ông L không phải cấp dưỡng nuôi con; đối với cháu H và T đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết nên không xét; về tài sản không yêu cầu nên không xét. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Võ Thị C có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Phi L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng cố tình vắng mặt không có lý do. Do đó, áp dụng các điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà C, ông L.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà C, ông L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) H, huyện T (nay là thị xã Đ), tỉnh Phú Yên vào năm 1997 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng bà C, ông L có mâu thuẫn do không hợp tính và thường xuyên cãi vã, ông L hay rượu chè về chửi mắng, đánh đập vợ con. Sự việc kéo dài đến cuối năm 2020, cả hai đã tự sống xa nhau, không ai còn quan tâm đến ai; quá trình giải quyết vụ án ông L đã thể hiện sự bỏ mặc, không hợp tác để Tòa vận động, H giải. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà C, ông L đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà C: Bà Võ Thị C được ly hôn với ông Nguyễn Ph L.

[3] Về con chung: Nguyễn Thị H, sinh năm 1997; Nguyễn C T, sinh năm 2001 và Nguyễn Thị Ng, sinh ngày 26/3/2007. Cháu Ng còn nhỏ, hiện do bà C trực tiếp nuôi dưỡng, do đó, để đảm bảo cho cháu được phát triển đầy đủ cả về thể chất lẫn tinh thần, cần tiếp tục giao cháu Ng cho bà C nuôi dưỡng. Bà C tự nguyện không yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi con nên ông L không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu H và T đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xét.

[4] Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên không xét.

[5] Về án phí Dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà C phải chịu án phí về yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Võ Thị C.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị C được ly hôn với ông Nguyễn Phi L.

- Về con chung: Giao cho bà Võ Thị C tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Nguyễn Thị Ng – Sinh ngày 26/3/2007. Ông Nguyễn Phi L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Nguyễn Phi L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Khi cần các bên có quyền yêu cầu thay đổi viê ̣c nuôi con chung hoă ̣c mứ c cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Võ Thị C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà bà C đã nộp tại phiếu thu số 0001671 ngày 15/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông H, tỉnh Phú Yên nên đã nộp đủ.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

Cỡ chữ