vanban.org

Bản án 17/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Kiên Thị P và anh Thạch T;

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận giữa chị Kiên Thị P và anh Thạch T. Giao cháu Thạch Thị Thanh T, sinh ngày 04/5/2011 cho chị Kiên Thị P tiếp tục nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, anh Thạch T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Kiên Thị P và anh Thạch T;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU KÈ
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 16-8-2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con
chung giữa chị Kiên Thị P và anh
Thạch T”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Trúc Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thạch Phới

Ông Đỗ Thành Tiết.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Thành Tú – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thân - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 109/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 01 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Kiên Thị P, sinh năm 1986 (có mặt).

Địa chỉ: ấp C N 1, xã H T, huyện C, tỉnh Trà Vinh

Bị đơn: Anh Thạch T, sinh năm 1979 (vắng mặt có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: ấp Ô T A, xã C Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 6 năm 2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay chị Kiên Thị P trình bày: Chị Kiên Thị P và anh Thạch T chung sống với nhau vào năm 2009, trong quá trình chung sống có đăng ký kết hôn tại UBND xã Châu Điền, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, chị P và anh T có 01 con chung tên Thạch Thị Thanh Thúy, sinh ngày 04/5/2011, hiện nay do chị P nuôi dưỡng. Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn tới ly hôn là do cự cãi thường xuyên, anh T cờ bạc, số đề, đánh đập vợ con, tôi có khuyên nhiều lần nhưng không được nên đã ly thân nhau từ ngày 15/7/2012 cho đến nay.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Kiên Thị P yêu cầu được ly hôn với anh Thạch T.

Về con chung: Chị Kiên Thị P yêu cầu nuôi dưỡng con chung tên Thạch Thị Thanh Thúy, sinh ngày 04/5/2011, chị P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Kiên Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị Kiên Thị P khai không có.

Anh Thạch T là bị đơn vắng mặt, có đơn xin vắng mặt và có lời trình như sau: Anh T và chị P chung sống với nhau vào năm 2009, trong quá trình chung sống có đăng ký kết hôn tại UBND xã Châu Điền, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, anh và chị P có 01 con chung tên Thạch Thị Thanh T, sinh ngày 04/5/2011, hiện nay do chị P nuôi dưỡng. Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn tới ly hôn là do khi vợ chồng đi làm thuê tại thành phố Hồ Chí Minh bà Phượng ghen tuông, cho rằng anh đi cờ bạc nên dẫn đến anh và chị P cự cãi nên đã ly thân nhau từ năm 2012 cho đến nay.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Thạch T xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa nên cũng thống nhất đồng ý ly hôn với chị Kiên Thị P.

Về con chung: Anh Thạch T đồng ý giao con chung tên Thạch Thị Thanh T, sinh ngày 04/5/2011 cho chị Kiên Thị P trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh Thạch T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh Thạch T khai anh và chị P không có nợ ai.

Em Thạch Thị Thanh T trình bày: em là con ruột của bà Ph và ông T. Khi cha mẹ em ly hôn e có nguyện vọng muốn sống với mẹ là bà Kiên Thị P.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Căn cứ trên cơ sở các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử:

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Kiên Thị P và anh Thạch T.

Về con chung: Giao cho chị Kiên Thị P được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Thạch Thị Thanh Thúy, sinh ngày 04/5/2011.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị P không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị P không yêu cầu nên không xem xét

Về nợ chung: không có nên không xem xét

Về án phí: Buộc chị P phải chịu án phí theo quy định pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Kiên Thị P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Thạch T. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Thạch T hợp lệ nhưng anh Thạch T vẫn vắng mặt và có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử nghĩ nên áp dụng Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh Thạch T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Kiên Thị P và anh Thạch T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân mâu thuẫn của chị P và anh T là bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, chung sống với nhau không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn nên đã ly thân nhau từ năm 2012 cho đến nay, xét thấy mâu thuẫn giữa chị Kiên Thị P và anh Thạch T là có thật, hai người không tự giải quyết được với nhau và hai người đã không còn chung sống với nhau khoảng 10 năm nay, chứng minh cuộc sống vợ chồng đã xảy ra trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cho nên chị Kiên Thị P yêu cầu ly hôn, anh Thạch T cũng đồng ý ly hôn với chị Kiên Thị P. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ nên áp dụng Điều 51, 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Kiên Thị P và anh Thạch T.

Về con chung: Chị Kiên Thị P và anh Thạch T trình bày có 01 người con chung tên Thạch Thị Thanh T, sinh ngày 04/5/2011, chị Kiên Thị P yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, anh Thạch T cũng đồng ý giao con cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng và anh không cấp dưỡng nuôi con, đồng thời đây cũng là nguyện vọng của cháu Thạch Thị Thanh T, khi cha mẹ cháu ly hôn cháu có nguyện vọng muốn được sống chung với mẹ là bà Kiên Thị P. Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khi chị P và anh T không còn chung sống với nhau cháu Thạch Thị Thanh T được chị P nuôi dạy tốt, không bị ngược đãi, đánh đập gì. Hội đồng xét xử nghĩ nên ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Giao cháu Thạch Thị Thanh T, sinh ngày 04/5/2011 cho chị Kiên Thị P tiếp tục nuôi dưỡng, anh T không trực tiếp nuôi con có quyền được tới lui thăm nom con chung, không ai được ngăn cản là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa hôm nay, chị P đã được Tòa án giải thích các quy định của pháp luật về người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nhưng chị P cho rằng chị có đủ khả năng và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng hai con chung nên chị không có yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung là Thạch Thị Thanh T, sinh ngày 04/5/2011 nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Các đương sự không có yêu cầu giải quyết về tài sản chung, cũng không có nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Buộc chị Kiên Thị P phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39; 147 Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Kiên Thị P và anh Thạch T;

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận giữa chị Kiên Thị P và anh Thạch T. Giao cháu Thạch Thị Thanh T, sinh ngày 04/5/2011 cho chị Kiên Thị P tiếp tục nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, anh Thạch T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Chị Kiên Thị P trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Thạch T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Thạch T không phải cấp dưỡng nuôi con chung là Thạch Thị Thanh Thúy, sinh ngày 04/5/2011.

Các đương sự không có yêu cầu giải quyết về tài sản chung, cũng không có nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Buộc chị Kiên Thị P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng; nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009154 ngày 11 tháng 7 năm 2022 của Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè, chị Siết đã nộp đủ án phí.

Về quyền kháng cáo: Chị Kiên Thị P được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Thạch T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ bản án được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ