vanban.org

Bản án 17/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị T ly hôn với anh Nguyễn Văn C.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị T có quyền trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Thị Bé N, sinh ngày 08/9/2013. Anh Nguyễn Văn C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu N 1.500.000 đồng/tháng (một triệu năm trăm nghìn đồng mỗi tháng) cho đến khi cháu N tròn 18 tuổi. Anh C có quyền thăm nom con chung, không ai đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị T ly hôn với anh Nguyễn Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA TRI
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28/02/2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Hữu Phước

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Giả Huệ Tiên – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Chúc – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 408/2021/TLST-HNGĐ ngày 16/11/2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2022/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2022/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1989 (vắng mặt có đơn)

ĐKTT: xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Thị M – Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt có đơn)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1992 (vắng mặt)

ĐKTT: ấp T, xã X, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/11/2021 và trong quá tr nh t t ng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn C tự nguyện kết hôn vào năm 2012 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã X vào ngày 14/9/2012. Quá trình chung sống, chị và anh C bắt đầu xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi. Chị đã nhiều lần cố gắng nhằm duy trì mối quan hệ vợ chồng, mong hàn gắn tình cảm nhưng không đạt được. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng chị đã sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Nay chị nhận thấy mâu thuẫn giữa chị và anh C đã trầm trọng, không thể chung sống và hòa hợp trở lại, tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn C.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Bé N, sinh ngày 08/9/2013. Hiện con chung đang sống cùng chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con và yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Trong quá tr nh t t ng v án, bị đơn anh Nguyễn Văn C không có văn bản thể hiện ý kiến của m nh về yêu cầu khởi kiện của chị T và không đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn chị T trình bày:

Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị T đối với anh Nguyễn Văn C. Về con chung: Đề nghị giao con chung là cháu Nguyễn Thị Bé N, sinh ngày 08/9/2013 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng và anh Nguyễn Văn C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu N 1.500.000 đồng/tháng. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

* uan điểm của đ i diện Viện iểm sát:

- Về thủ t c: Thẩm phán đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, cấp tống đạt các văn bản cho đương sự, gởi thông báo thụ lý, hồ sơ đến Viện kiểm sát đúng quy định, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định về trình tự, thủ tục giải quyết của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán chấp hành đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định, đảm bảo cho các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia giải quyết vụ án nên đủ điều kiện đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Việc nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và phiên tòa xét xử vắng mặt đương sự là đúng theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật dân sự. Riêng bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật dân sự.

- Về nội dung v án: Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị:

+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.

+ Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Bé N, sinh ngày 08/9/2013 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và buộc anh Nguyễn Văn C cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.

+ Về tài sản chung: không có yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

+ Về nợ chung: không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn C kết hôn năm 2012 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Do đó, hôn nhân của chị T và anh Có là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị T cho rằng mâu thuẫn đã trầm trọng nên yêu cầu ly hôn cùng anh C. Kết quả xác minh tại địa phương không nắm rõ về mâu thuẫn giữa chị T và anh C, tuy nhiên, qua việc anh C biết chị T yêu cầu ly hôn nhưng không đến Tòa chứng tỏ anh C không có thiện chí hàn gắn cùng chị T. Mặc khác, thời gian ly thân đã lâu nhưng cả hai vẫn không thể hàn gắn. Do đó, HĐXX xét thấy tình trạng hôn nhân của chị T và anh C đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ phù hợp với quy định khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được HĐXX chấp nhận.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị T và anh Có có 01 con chung tên Nguyễn Thị Bé N, sinh ngày 08/9/2013. Hiện con chung đang sống cùng chị T. Xét yêu cầu tiếp tục nuôi con của chị T là có cơ sở, đảm bảo được sự ổn định cho cuộc sống, việc học hành cũng như tâm sinh lý của cháu N. Do đó, HĐXX chấp nhận giao con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng. Vì anh C không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nên phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Mức cấp dưỡng 1.500.000 đồng/tháng mà chị T yêu cầu là phù hợp nên được HĐXX chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Không ai có yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là phù hợp với các nhận định nêu trên nên được HĐXX chấp nhận.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp án phí hôn nhân gia đình và anh Nguyễn Văn C phải nộp án phí cấp dưỡng theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 207, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị T ly hôn với anh Nguyễn Văn C.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị T có quyền trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Thị Bé N, sinh ngày 08/9/2013. Anh Nguyễn Văn C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu N 1.500.000 đồng/tháng (một triệu năm trăm nghìn đồng mỗi tháng) cho đến khi cháu N tròn 18 tuổi.

Anh C có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Khi có nhu cầu, vì lợi ích của con chung, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét.

4. Về án phí:

- Chị Nguyễn Thị T phải nộp án phí hôn nhân gia đình là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào biên lai thu tiền số 0003219 ngày 15/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B.

- Anh Nguyễn Văn C phải nộp án phí cấp dưỡng là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ