vanban.org

Bản án 17/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Ánh Ph.

1. Giao con chung tên Nguyễn Trọng T, sinh ngày 04/5/2015 cho bà Nguyễn Ngọc Ánh Ph trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Bá D không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bên không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản thực hiện quyền này. Nếu lạm dụng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Ngọc Ánh Ph "Thay đổi người trực tiếp nuôi con" ông Nguyễn Bá D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Ánh Ph.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC HÓA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 21-6-2022
V/v “Thay đổi người trực tiếp
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC HÓA

TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Hồng.

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Bùi Thị Kim Hạnh;

2/ Ông Lý Quốc Trưởng;

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa.

Ngày 21 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An; Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2022/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 4 năm 2022, về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc Ánh Ph, sinh năm: 1985 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp X, xã X, huyện T, tỉnh Đ.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Bá D, sinh năm: 1985 (Có mặt).

Địa chỉ: Khu phố 3, thị trấn B, huyện M, tỉnh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 4 năm 2022, trong quá trình tố tụng và lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Ánh Ph trình bày như sau:

Bà Nguyễn Ngọc Ánh Ph và ông Nguyễn Bá D thuận tình ly hôn theo quyết định số 08/2018/QĐST-HNGĐ ngày 26/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh L.

Nội dung quyết định thể hiện:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc Ánh Ph và ông Nguyễn Bá D thống nhất thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc Ánh Ph và ông Nguyễn Bá D xác định có 02 con chung tên Nguyễn Trọng Kh, sinh ngày 06/10/2012 và Nguyễn Trọng T, sinh ngày 04/5/2015. Sau khi ly hôn thì bà Nguyễn Ngọc Ánh Ph trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trọng Kh, ông Nguyễn Bá D trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trọng T. Bà Ph và ông D đều không yêu cầu cấp dưỡng.

Các bên vẫn có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định pháp luật.

Theo quyết định trên thì ông D là người trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Trọng T, tuy nhiên sau khi ly hôn thì ông D chỉ nuôi dưỡng cháu T một thời gian ngắn và sau đó cháu T do bà Ph nuôi dưỡng từ đó cho đến nay. Quá trình bà Ph nuôi cháu T thì ông D không có thăm nom chăm sóc cháu T vì ông D hiện đã có gia đình khác. Đến nay cháu T đến tuổi đi học thì ông D không giao hộ khẩu của cháu T (vì trước đây cháu T đã nhập hộ khẩu chung với ông D) để làm thủ tục nhập học. Việc làm này đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của cháu T rất nghiêm trọng.

Do vậy, để đảm bảo việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, bà Ph đề nghị Tòa án xem xét giao cháu Nguyễn Trọng T cho bà Ph trực tiếp nuôi dưỡng, bà Ph không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung.

Bị đơn, ông Nguyễn Bá D trình bày: Ông thống nhất với bà Ph về việc thuận tình ly hôn và nuôi con chung đúng như quyết định số 08/2018/QĐST-HNGĐ ngày 26/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh L. Sau khi ly hôn thì ông là người trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Trọng T, sinh ngày 04/5/2015. Được một thời gian thì bà Ph về đón cháu T về ở với bà cho đến nay. Nay bà Ph yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi để bà Ph trực tiếp nuôi cháu T thì ông không đồng ý, ông muốn trực tiếp nuôi cháu T theo như quyết định trước đây của Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Ngọc Ánh Ph yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, ông Nguyễn Bá D cư trú ở huyện M vì vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của đương sự: Bà Nguyễn Ngọc Ánh Ph yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.

Bà Nguyễn Ngọc Ánh Ph và ông Nguyễn Bá D có 02 con chung tên Nguyễn Trọng Kh, sinh ngày 06/10/2012 và Nguyễn Trọng T, sinh ngày 04/5/2015. Căn cứ quyết định số 08/2018/QĐST-HNGĐ ngày 26/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh L về viêc thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự thể hiện bà Ph và ông D thỏa thuận phần con chung là giao cháu Nguyễn Trọng Kh cho bà Ph trực tiếp nuôi dưỡng, còn ông D trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trọng T. Không bên nào cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.

Sau khi giao cháu T cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng một thời gian thì cháu T về sống với bà Ph cho đến nay, như vậy là mặc dù quyết định giao cháu T cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng nhưng trên thực tế thì bà Ph là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu T.

Xét về điều kiện kinh tế thì bà Ph hiện nay đang kinh doanh bán đồ ăn với thu nhập không dưới 15.000.000đ mỗi tháng, còn ông D trình bày hiện đang làm ruộng với thu nhập từ 10.000.000đ đến 12.000.000đ/tháng. Có thể thấy thì hiện nay bà Ph có thu nhập ổn định hơn ông D, thêm vào đó ông D hiện có gia đình khác và cũng có thêm con nên với thu nhập không ổn định của mình thì ông D khó đảm bảo việc nuôi dưỡng cháu Tân.

Đồng thời cháu T cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng mẹ và anh trai. Để đảm bảo việc chăm sóc và ổn định tâm lý cho cháu T cần duy trì việc nuôi dưỡng này. Do đó Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung của bà Nguyễn Ngọc Ánh Ph là có cơ sở theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Ngọc Ánh Ph không yêu cầu ông Nguyễn Bá D cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Bá D phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28; Điều 35; 39; 147; 271; 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 68,81,82,83,84 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Ánh Ph.

1.1. Giao con chung tên Nguyễn Trọng T, sinh ngày 04/5/2015 cho bà Nguyễn Ngọc Ánh Ph trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Bá D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bên không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản thực hiện quyền này. Nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bên đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền th8m nom con của bên không trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con chung, các đương sự có thể tự thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

1.2 Quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con này thay thế quyết định số 08/2018/QĐST-HNGĐ ngày 26/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh L về phần con chung đối với cháu Nguyễn Trọng T, sinh ngày 04/5/2015

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

2.1 Ông Nguyễn Bá D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

2.2 Bà Nguyễn Ngoạc Ánh Ph không phải chịu án phí, hoàn lại cho bà Ph 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0010385, ngày 14/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh L.

3. Các đương sự được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ