vanban.org

Bản án 17/2022/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Thái Bình Tuyên án 25/07/2022 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác đơn khởi kiện của ông Vũ Quốc T yêu cầu hủy Quyết định số 1606/QĐ-SLĐTBXH ngày 24/12/2020 về việc ngừng thực hiện chế độ đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và yêu cầu hủy Quyết định số 747/QĐ-SLĐTBXH ngày 09/11/2021 về việc giải quyết khiếu nại (…

Án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hành chính sơ thẩm cho ông Vũ Quốc T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Ông Vũ Quốc T khởi kiện quyết định hành chính"
  • Tòa quyết gì? Bác đơn khởi kiện của ông Vũ Quốc T yêu cầu hủy Quyết định số 1606/QĐ-SLĐTBXH ngày 24/12/2020 về việc ngừng thực hiện chế độ đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và yêu cầu hủy Quyết định số 747/QĐ-SLĐTBXH ngày 09/11/2021 về việc giải quyết khiếu nại (…
  • Căn cứ chính? Điều 168 Luật Tố tụng hành chính; Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH Hướng dẫn về thủ tục lập hồ s…; Pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH11 Ưu đãi người có công với cá…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2022/HC-ST
Ngày 25-7-2022
V/v: Khiếu kiện quyết định hành chính

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

2. Ông Nguyễn Thế Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Sáng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Hải Bằng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 46/2022/TLST-HC ngày 03 tháng 3 năm 2022 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2022/QĐXXST-HC ngày 11 tháng 7 năm 2022 giữa:

* Người khởi kiện: Ông Vũ Quốc T - Sinh năm 1954.

Địa chỉ: Thôn TB, xã NH, huyện TH, tỉnh Thái Bình.

* Người bị kiện: Giám đốc Sở LĐTBXH tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo ủy quyền của Giám đốc Sở LĐTBXH tỉnh Thái Bình: Ông Nguyễn Văn T1 - Phó Giám đốc Sở LĐTBXH tỉnh Thái Bình.

(Ông T, ông T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Người khởi kiện - ông Vũ Quốc T trình bày: Ngày 25/8/2008, Giám đốc Sở LĐTBXH tỉnh Thái Bình ban hành Quyết định số 801/QĐ-SLĐTBXH về việc trợ cấp đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đối với ông. Theo Quyết định số 801, ông được hưởng trợ cấp đến ngày 31/12/2020. Ngày 24/12/2020, Giám đốc Sở LĐTBXH tỉnh Thái Bình ban hành Quyết định số 1606/QĐ-SLĐTBXH về việc ngừng thực hiện chế độ đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đối với ông. Sau khi nhận được Quyết định số 1606/QĐ-SLĐTBXH ngày 24/12/2020, ông đã làm đơn khiếu nại đến Sở LĐTBXH tỉnh Thái Bình và tại Quyết định số 747/QĐ-SLĐTBXH ngày 09/11/2021, Giám đốc Sở LĐTBXH tỉnh Thái Bình đã giải quyết khiếu nại (lần đầu) và không chấp nhận yêu cầu của ông. Việc giám đốc Sở LĐTBXH tỉnh Thái Bình ban hành Quyết định số 1606/QĐ-SLĐTBXH ngày 24/12/2020 và Quyết định số 747/QĐ-SLĐTBXH ngày 09/11/2021 là trái quy định của pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông. Ông yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 1606/QĐ-SLĐTBXH, ngày 24/12/2020 về việc ngừng thực hiện chế độ đối với người tham gia hoạt động kháng chiến (HĐKC) bị nhiễm chất độc hóa học (CĐHH) và Quyết định 747/QĐ-SLĐTBXH ngày 09 tháng 11 năm 2021 về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của Giám đốc sở LĐTBXHtỉnh đối với ông.

* Người bị kiện trình bày:

Các văn bản làm căn cứ thực hiện chính sách đối với người tham gia hoạt động kháng chiến (HĐKC) bị nhiễm chất độc hóa học (CĐHH) gồm: Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005-UBTVQH11 ngày 29/6/2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Nghị định số 54/2006/NĐ-CP, ngày 26/5/2006 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng; Thông tư số 07/2006/TT-BLĐTBXH ngày 26/7/2006 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn về hồ sơ, lập hồ sơ thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng; Thông tư số 25/2007/TT-BLĐTBXH ngày 15/11/2007 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn bổ sung việc thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng; Công văn số 98/UBND-VX ngày 24/01/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình về việc tổ chức thực hiện Nghị định số 54/2006/NĐ-CP; Kế hoạch liên ngành số 06/KHLT-SLĐTBXH ngày 07/3/2007 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, Sở Tài chính, Sở Y tế, Hội đồng Giám định Y khoa tỉnh về việc triển khai lập hồ sơ thực hiện chế độ trợ cấp hàng tháng đối với người HĐKC và con đẻ của họ bị nhiễm CĐHH theo Nghị định số 54/2006/NĐ-CP; Hướng dẫn số 06/HD-SYT ngày 08/3/2007 của Sở Y tế Thái Bình ban hành về việc lập hồ sơ thực hiện chế độ trợ cấp hàng tháng đối với người HĐKC và con đẻ của họ bị nhiễm CĐHH theo Nghị định 54/2006/NĐ-CP, kèm theo 125 danh mục dị dạng, dị tật do chất độc hóa học.

Căn cứ vào các văn bản nêu trên, ông T được Ủy ban nhân dân (UBND) xã hướng dẫn lập hồ sơ đề nghị hưởng chế độ người HĐKC bị nhiễm CĐHH.

Hồ sơ đề nghị hưởng chế độ trợ cấp của ông Vũ Quốc T có các tài liệu: Bản khai cá nhân ghi ngày 10/5/2007, trong đó ông T khai có con đẻ là Vũ Văn T2, sinh năm 1982, bị dị dạng, dị tật “Vẩy nến”; Các giấy tờ thể hiện thời gian tham gia HĐKC tại vùng Quân đội Mỹ sử dụng CĐHH trong chiến tranh ở Việt Nam trong thời gian từ 01/8/1961 đến 30/4/1975 là bản sao Quyết định trợ cấp BB số 05/HKJ-E ngày 20/6/1998 của Trung đoàn 26 trong đó thể hiện từ 01/1975 đến 3/1978 E26QK9; Các giấy tờ chứng minh con đẻ mắc dị dạng, dị tật của cấp huyện và cấp xã gồm:

+ Giấy xác nhận ngày 25/6/2007 của UBND huyện TH xác nhận ông Vũ Quốc T có con đẻ là Vũ Văn T2, sinh năm 1982, bị dị dạng, dị tật vẩy nến;

+ Biên bản của Hội đồng chính sách xã NH; Giấy xác nhận của UBND xã NH; Giấy xác nhận của Trạm y tế xã NH, xác nhận ông Vũ Quốc T có con đẻ là Vũ Văn T2, sinh năm 1982, bị dị dạng, dị tật vẩy nến, còn khả năng tự lực được trong sinh hoạt; Ông Vũ Quốc T đồng thời đang hưởng chế độ Bệnh binh 2/3.

Quá trình xét duyệt hồ sơ đề nghị hưởng chính sách của ông Vũ Quốc T do cấp xã, huyện chuyển đến: Sau khi xét duyệt hồ sơ đầy đủ theo quy định, Sở LĐTBXHđã ban hành Thông báo số 1558/SLĐTBXH ngày 28/5/2008, trong đó có nêu rõ “ông Vũ Quốc T là người đã có thời gian tham gia kháng chiến chống Mỹ trước 30/4/1975 ở các vùng quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc hóa học trong chiến tranh Việt Nam. Sau khi trở về đã sinh con dị dạng, dị tật và mắc các bệnh tật nên bị suy giảm khả năng lao động. Hiện tại đang hưởng chế độ Bệnh binh 65%” gửi về UBND xã NH, yêu cầu niêm yết công khai tại Trụ sở UBND xã và thông báo trên Đài truyền thanh xã. Qua quá trình công khai tại địa phương, UBND xã NH không nhận được ý kiến thắc mắc, ngày 16/5/2008, xã NH có biên bản đề nghị giải quyết chế độ trợ cấp người HĐKC bị nhiễm CĐHH gửi về Phòng LĐTBXHhuyện TH để gửi về Sở Lao động - Thương binh và Xã hội. Trên cơ sở Biên bản kết quả công khai và đề nghị giải quyết chế độ ưu đãi người có công đối với ông T của UBND xã NH, Sở LĐTBXHđã ban hành Quyết định số 801/QĐ-SLĐTBXH ngày 28/5/2008 về việc trợ cấp người HĐKC bị nhiễm CĐHH đối với ông Vũ Quốc T kể từ tháng 5/2008, với mức trợ cấp 594.000 đồng/tháng.

Quá trình rà soát và ngừng thực hiện chế độ đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đối với ông Vũ Quốc T:

Căn cứ để triển khai, thực hiện việc rà soát hồ sơ người hưởng chế độ HĐKC bị nhiễm CĐHH:

- Kết luận thanh tra số 44/KL-TTr, ngày 02/4/2015 của Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, về việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công với Cách mạng tại tỉnh Thái Bình;

Trong đó, tại điểm 2.1, mục 2, phần III kết luận việc xác lập hồ sơ người HĐKC và con đẻ của họ bị nhiễm CĐHH khi thực hiện Nghị định 54/2006/NĐ-CP và Thông tư 07/2006/TT-BLĐTBXH có thiếu sót: “Khi các cơ quan có thẩm quyền (như Bộ LĐTBXH, Bộ Y tế) chưa có hướng dẫn về danh mục dị dạng, dị tật có liên quan đến phơi nhiễm CĐHH làm cơ sở để xác lập hồ sơ nhưng Sở LĐTBXH tỉnh Thái Bình đã căn cứ vào danh mục 125 loại dị dạng, dị tật do CĐHH ban hành kèm theo Hướng dẫn số 06 ngày 08/3/2007 của Sở Y tế Thái Bình để tiến hành xác lập, xét duyệt, xác nhận hồ sơ đối với người HĐKC bị nhiễm CĐHH sinh con dị dạng, dị tật; trong đó có nhiều trường hợp y tế cấp xã, huyện chưa đủ cơ sở để xác định là dị dạng, dị tật bẩm sinh như: cận thị bẩm sinh, mẩn ngứa bẩm sinh, biến dạng lồng ngực, hoặc xác nhận những loại bệnh không phải là dị dạng, dị tật nhưng vẫn được giải quyết chế độ như: gai cột sống, pholip hậu môn, nhược cơ chu kỳ...” Đồng thời, kiến nghị đối với toàn bộ 11.559 hồ sơ hưởng trợ cấp ưu đãi người HĐKC bị nhiễm CĐHH xác lập theo Thông tư số 07/2006/TT-BLĐTBXH (Tại đoạn h, tiết 1.2.2, khoản 1, Mục IV kiến nghị và các biện pháp xử lý trong đó có trường hợp của ông Vũ Quốc T) như sau: Giám đốc Sở LĐTBXH tỉnh Thái Bình báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh lập kế hoạch phối hợp với Sở Y tế, Trung tâm giám định y khoa thành lập Tổ công tác để tiến hành kiểm tra, rà soát thực chứng về tình trạng dị dạng, dị tật của con đẻ làm điều kiện để giải quyết chế độ đối... báo cáo kết quả về Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Sau khi thực hiện việc rà soát xong các đối tượng thuộc huyện Đông Hưng và Kiến Xương thì tiến hành việc rà soát, thực chứng đối với tất cả các đối tượng của các huyện còn lại trong toàn tỉnh. Việc rà soát, thực chứng kết thúc trước ngày 31/12/2016 và báo cáo toàn bộ kết quả rà soát về Bộ LĐTBXH trước ngày 31/3/2017.

- Văn bản số 1182/UBND-KGVX ngày 03/4/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc tổ chức thực hiện Kết luận thanh tra số 44/KL-TTr của Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;

- Sau khi có Kết luận thanh tra số 44 và Văn bản số 1182, Sở LĐTBXHtỉnh ban hành: Quyết định số 324/QĐ-SLĐTBXH, ngày 13/6/2017 về việc thành lập Tổ công tác tiến hành thực chứng tình trạng dị dạng, dị tật của con đẻ người HĐKC liên quan đến phơi nhiễm CĐHH (thành phần Tổ công tác gồm có đại diện các sở, ngành: Lao động - Thương binh và Xã hội, Y tế, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Công an tỉnh, Hội Cựu chiến binh tỉnh, Trung tâm Giám định Y khoa tỉnh, Bệnh viện Phục hồi chức năng) và Kế hoạch số 32/KH-SLĐTBXH, ngày 20/6/2017 triển khai công tác thực chứng dị dạng, dị tật của con đẻ người HĐKC có liên quan đến phơi nhiễm với CĐHH.

- Kết luận thanh tra số 482/KL-TTr, ngày 29/11/2017, của Thanh tra Bộ LĐTBXHvề việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng tại tỉnh Thái Bình,

Đây là cuộc thanh tra đột xuất vào thời điểm tháng 11/2017, khi tỉnh Thái Bình đang triển khai thực hiện việc rà soát theo Kết luận thanh tra số 44/KL-TTr, ngày 02/4/2015 của Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Trọng tâm Thanh tra bộ kiểm tra việc xác nhận đối tượng và thực hiện chế độ ưu đãi đối với người HĐKC và con đẻ của họ bị nhiễm CĐHH trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ. Tại đoạn c, tiết 1.2.2, điểm 1.2, khoản 1, Mục IV kiến nghị của Kết luận thanh tra số 482/KL-TTr, nêu: Đối với 70 trường hợp hồ sơ được xác lập theo Thông tư số 07/2006/TT-BLĐTBXH nhưng đến tháng 9/2009 hoặc có những trường hợp đến tháng 6/2010 Sở LĐTBXH tỉnh Thái Bình mới ban hành Quyết định hưởng trợ cấp nêu tại đoạn d, tiết 2.2.1, điểm 2.2, khoản 2 Mục II Kết luận thanh tra này, đề nghị Giám đốc Sở LĐTBXH tỉnh Thái Bình thực hiện như sau:- Tiến hành kiểm tra, thực chứng về tình trạng bệnh, tật, dị dạng, dị tật làm điều kiện giải quyết chế độ người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm CĐHH đối với 70 trường hợp nêu trên.- Sau khi có kết quả kiểm tra, thực chứng , những trường hợp không bị mắc bệnh, tật, dị dạng, dị tật theo quy định thì ban hành quyết định đình chỉ trợ cấp và thu hồi số tiền đã hưởng sai nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. Việc rà soát, thực chứng kết thúc trước ngày 31/12/2017.”

- Thông báo kết luận số 554/TB-LĐTBXH, ngày 06/02/2018 của Bộ Lao động

- Thương binh và Xã hội.

Trong quá trình tổ chức thực hiện 02 Kết luận thanh tra của Thanh tra Bộ (số 44/KL-TTr, ngày 02/4/2015 và số 482/KL-TT, ngày 29/11/2017) ngày 22/01/2018, Thứ trưởng Bộ LĐTBXHđã chủ trì cuộc họp tại Thái Bình để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện các Kết luận thanh tra. Tại Thông báo kết luận nêu trên đã thống nhất với việc Uỷ ban nhân dân tỉnh thành lập Ban chỉ đạo và ban hành kế hoạch triển khai thực hiện việc rà soát lại từng trường hợp đang hưởng chế độ người HĐKC và con đẻ của họ bị nhiễm CĐHH, đồng thời yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các cơ quan liên quan, sau khi tiến hành rà soát, những trường hợp không đủ điều kiện hưởng chế độ thì đình chỉ trợ cấp và thu hồi số tiền hưởng sai nộp ngân sách Nhà nước.

Quá trình rà soát hồ sơ hưởng chế độ người HĐKC bị nhiễm CĐHH của ông Vũ Quốc T:

Căn cứ các văn bản đã nêu ở mục 2.1, Phần 2, việc rà soát hồ sơ hưởng chế độ người HĐKC bị nhiễm CĐHH của ông T được thực hiện và trình tự các bước cụ thể sau: Ngày 27/9/2017, Tổ công tác tiến hành thực chứng tình trạng DDDT của con đẻ của ông T là Vũ Văn T2 đã kê khai trong hồ sơ và lập Phiếu kiểm tra, xác định tình trạng dị dạng, dị tật của con đẻ người HĐKC, trong đó đã có kết quả thực chứng: Hiện tại: Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, không liệt thần kinh khu trú; trí nhớ, trí tuệ bình thường; Vẩy nến (GRV của BVĐK TH 2007); khai đau lưng, cúi khó. Kết luận của Tổ thực chứng: TD tật gai sống chẻ đôi và đề nghị chụp XQ CSTL bổ sung hồ sơ.

- Ngày 01/3/2018, Sở LĐTBXHđã tổ chức họp với đại diện các Tổ công tác để rà soát, thảo luận kết quả thực chứng và kết luận đối với từng trường hợp và lập thành danh sách gồm: (1) Các trường hợp con đẻ người HĐKC mắc DDDT bẩm sinh do hậu quả của CĐHH; (2) Các trường hợp con đẻ người HĐKC không mắc DDDT bẩm sinh do hậu quả của CĐHH (có trường hợp con đẻ anh Vũ Văn T2); (3) Các trường hợp có ý kiến thắc mắc với kết quả thực chứng, hướng dẫn đối tượng có đơn đề nghị kiểm tra, đánh giá lại tình trạng dị dạng dị tật của con đẻ gửi về Sở LĐTBXHđể tổng hợp báo cáo cơ quan có thẩm quyền tổ chức thực chứng phúc quyết hoặc giới thiệu giám định y khoa (theo yêu cầu) xác định lại tình trạng dị dạng, dị tật của con đẻ người HĐKC làm cơ sở giải quyết chính sách theo quy định.

- Ngày 8/6/2018, Tổ công tác của tỉnh đã làm việc với ông Vũ Quốc T để thông báo Kết quả thực chứng và kết luận anh Vũ Văn T2 không mắc dị dạng, dị tật bẩm sinh. Đề nghị dừng trợ cấp theo quy định. Ông Vũ Quốc T đã ký biên bản làm việc với Tổ công tác.

- Trong quá trình rà soát, thực chứng, ngày 13/5/2019 liên ngành Sở LĐTBXHvà Sở Y tế có Công văn số 824/SLĐTBXH-NCC gửi Ủy ban nhân dân huyện, thành phố đề nghị các địa phương hướng dẫn đối tượng còn có ý kiến thắc mắc với kết luận của tổ thực chứng, tổ rà soát về tình trạng dị dạng, dị tật của con đẻ người HĐKC bị nhiễm CĐHH hoàn thiện hồ sơ, đề nghị giám định y khoa. Tuy nhiên đến nay các cơ quan từ tỉnh đến cơ sở không nhận được ý kiến thắc mắc của ông T về kết luận của tổ thực chứng về tình trạng dị dạng dị tật của anh Vũ Văn T2.

Việc bổ sung, hoàn thiện hồ sơ của ông Vũ Quốc T trong quá trình rà soát thực hiện Kết luận Thanh tra.

Để tạo điều kiện cho những trường hợp thuộc diện phải phải rà soát, Sở LĐTBXHban hành Văn bản số 722/SLĐTBXH, ngày 14/5/2018, hướng dẫn bổ sung hồ sơ các trường hợp người HĐKC có con đẻ mắc DDDT để báo cáo xin ý kiến Bộ Lao động - TBXH và giải quyết theo quy định.

Tại buổi thực chứng tình trạng DDDT của con đẻ ngày 27/9/2017, anh Vũ Văn T2 khai đau lưng cúi khó và đề nghị chụp XQ cột sống thắt lưng để bổ sung hồ sơ. Tuy nhiên đến nay Sở Lao động - Thương binh và Xà hội tỉnh không nhận được hồ sơ đề nghị người HĐKC bị nhiễm CĐHH của ông Vũ Quốc T do có con đẻ mắc tật gai sống chẻ đôi theo quy định tại Thông tư số 20/2016/TTLT-BYT-BLĐTBXH ngày 30/6/2016 của liên Bộ Y tế, Bộ LĐTBXHhướng dẫn khám giám định bệnh, tật, DDDT có liên quan đến phơi nhiễm với CĐHH đối với người HĐKC và con đẻ của họ và hướng dẫn của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội. Vì vậy đề nghị của ông T và anh T2 không có căn cứ để giải quyết.

- Tháng 6/2018, ông T có bổ sung hồ sơ có con đẻ mắc DDDT đã chết. Hồ sơ được lập trên cơ sở xác nhận của người làm chứng, họp xét duyệt công khai tại địa phương… và được Phòng LĐTBXHhuyện TH nộp về Sở. Các giấy tờ của thôn, xã, Trạm Y tế xã, đều xác nhận ông T có con đẻ sinh năm 1980 bị đầu nhỏ, dính ngón chân trái đã chết sau sinh 2 ngày. Sở LĐTBXHđã tổng hợp hồ sơ của các trường hợp bổ sung con đẻ mắc DDDT đã chết (trong đó có hồ sơ của ông Vũ Quốc T), báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh. Ngày 27/5/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh có Báo cáo số 41/BC-UBND gửi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trong đó "đề nghị Bộ LĐTBXHcho phép người HĐKC được bổ sung hoàn thiện hồ sơ trên cơ sở xác nhận của Trạm y tế cấp xã, ý kiến làm chứng của cán bộ Trạm y tế xã thời kỳ điều trị, ý kiến của người cùng thôn, xóm nơi đối tượng cư trú..., được công khai minh bạch tại thôn, xóm, được địa phương và Hội đồng chính sách cấp xã xác nhận và kết luận rõ tình trạng dị dạng, dị tật bẩm sinh của con đẻ người HĐKC (đã chết), được Ủy ban nhân dân cấp huyện thẩm định, thống nhất đề nghị sẽ đủ điều kiện xác nhận là người HĐKC bị nhiễm CĐHH sinh con dị dạng, dị tật đã chết để tiếp tục hưởng chính sách theo quy định". Song Bộ LĐTBXHcó Văn bản số 2319/LĐTBXH-TTr ngày 25/6/2020 trả lời là không có cơ sở pháp lý để giải quyết.

Căn cứ, lý do ngừng thực hiện chế độ đối với người HĐKC bị nhiễm CĐHH của ông T theo Quyết định 1606/QĐ-SLĐTBXH.

Theo khoản 2 Điều 22 Nghị định 54/2006/NĐ-CP quy định điều kiện để hưởng chế độ ưu đãi đối với người HĐKC bị nhiễm CĐHH là:

- Đã công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu từ tháng 8 năm 1961 đến 30 tháng 4 năm 1975 tại các vùng quân đội Mỹ sử dụng chất độc hóa học;

- Bị mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động, sinh con dị dạng, dị tật hoặc vô sinh do hậu quả của chất độc hóa học.

Căn cứ vào kết quả rà soát, kết quả thực chứng của Tổ công tác đối với con đẻ kê khai trong hồ sơ kết luận anh Vũ Văn T2 là không mắc dị dạng, dị tật bẩm sinh. Do đó, ngày 24/12/2020, Sở LĐTBXHđã ban hành Quyết định số 1606/QĐ-SLĐTBXH về việc ngừng thực hiện chế độ đối với người HĐKC bị nhiễm CĐHH; theo đó, ông Vũ Quốc T bị ngừng thực hiện chế độ ưu đãi người HĐKC bị nhiễm CĐHH kể từ ngày 01/01/2021.

Kết quả giải quyết khiếu nại lần 1 đối với ông Vũ Quốc T.

Ông Vũ Quốc T có đơn khiếu nại Quyết định số 1606/QĐ-SLĐTBXH ngày 24/12/2020 của Sở LĐTBXHvề việc ngừng thực hiện chế độ đối với người HĐKC bị nhiễm CĐHH đối với ông.

Ngày 9/11/2021, Giám đốc Sở LĐTBXHđã ban hành Quyết định số 747/QĐ-SLĐTBXH về việc giải quyết khiếu nại của ông Vũ Quốc T theo đó kết luận: Công nhận và giữ nguyên Quyết định số 1606/QĐ-SLĐTBXH ngày 24/12/2020 của Sở LĐTBXHvề việc ngừng thực hiện chế độ đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đối với ông Vũ Quốc T.

Nội dung ông Vũ Quốc T khiếu nại đối với Quyết định số 1606/QĐ-SLĐTBXH ngày 24/12/2021 của Sở LĐTBXHlà sai. Yêu cầu ông Vũ Quốc T, các tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện Quyết định số 1606/QĐ-SLĐTBXH ngày 24/12/2020 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.

Như vậy, việc Giám đốc Sở LĐTBXHban hành Quyết định số 1606/QĐ-SLĐTBXH ngày 24/12/2020 về việc ngừng thực hiện chế độ ưu đãi người HĐKC bị nhiễm CĐHH đối với ông Vũ Quốc T và Quyết định số 747/QĐ-SLĐTBXH về việc giải quyết khiếu nại của ông Vũ Quốc T là đúng.

Sở LĐTBXHđề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình bác Đơn khởi kiện của ông Vũ Quốc T.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính từ thủ tục thụ lý vụ án, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại mở phiên tòa và xét xử vụ án. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Quốc T.

- Về án phí: Ông Vũ Quốc T không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng, ý kiến của kiểm sát viên, các quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Về tố tụng:

Thẩm quyền của Tòa án: Ông Vũ Quốc T khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 1606/QĐ-SLĐTBXH ngày 24/12/2020 về việc ngừng thực hiện chế độ đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và Quyết định số 747/QĐ-SLĐTBXH về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của Giám đốc Sở LĐTBXH tỉnh Thái Bình, căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 09/11/2021, Giám đốc Sở LĐTBXH tỉnh Thái Bình ban hành Quyết định số 747/QĐ-SLĐTBXH về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu). Ngày 13/12/2021, ông Vũ Quốc T khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính, đơn khởi kiện của ông Vũ Quốc T được gửi trong thời hiệu quy định pháp luật.

Về việc vắng mặt của đương sự: Giám đốc Sở LĐTBXH tỉnh Thái Bình vắng mặt nhưng có văn bản ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Trường - Phó Giám đốc Sở LĐTBXH tỉnh Thái Bình tham gia tố tụng. Ông Vũ Quốc T và ông Nguyễn Văn Trường có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hợp lệ. Căn cứ khoản 1 Điều 158 và điểm a, b khoản 1 Điều 168 Luật Tố tụng hành chính, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

* Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Quốc T:

Đối với Quyết định số 1606/QĐ-SLĐTBXH ngày 24/12/2020 về việc ngừng thực hiện chế độ ưu đãi người HĐKC bị nhiễm CĐHH đối với ông Vũ Quốc T của Giám đốc Sở LĐTBXH tỉnh Thái Bình:

Triển khai thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công với Cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11; Nghị định số 54/2006/NĐ-CP ngày 26/5/2006 của Chính phủ và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Pháp lệnh ưu đãi người có công với Cách mạng, theo hướng dẫn của các cơ quan chức năng, ông Vũ Quốc T đã lập hồ sơ đề nghị hưởng chế độ trợ cấp người HĐKC bị nhiễm CĐHH. Hồ sơ của ông Vũ Quốc T có các tài liệu thể hiện ông đã có thời gian chiến đấu tại chiến trường quân đội Mỹ sử dụng CĐHH, ông là thương binh, ông sinh con trai là anh Vũ Văn T2 bị bệnh “Vẩy nến, còn khả năng tự lực được trong sinh hoạt”. Sau quy trình công khai, niêm yết theo quy định, hồ sơ hưởng chế độ của ông T không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại, Giám đốc Sở LĐTBXHtỉnh Thái Bình đã ban hành Quyết định số 801/QĐ-SLĐTBXH ngày 28/5/2008 về việc trợ cấp người HĐKC bị nhiễm CĐHH đối với ông Vũ Quốc T.

Tuy nhiên, do thời điểm các năm 2006-2007 các cơ quan có thẩm quyền chưa ban hành danh mục DDDT bẩm sinh của con đẻ người HĐKC có liên quan đến phơi nhiễm CĐHH cụ thể gồm những loại bệnh gì. Ngày 20/02/2008, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 09/2008/QĐ-BYT ban hành danh mục DDDT có liên quan đến phơi nhiễm CĐHH/dioxin, trong đó khoản 16 Điều 1 quy định: “Các DDDT bẩm sinh (đối với con của người HĐKC bị nhiễm CĐHH/dioxin)”. Như vậy, quy định của Bộ Y tế yêu cầu DDDT của con đẻ người HĐKC phải là bẩm sinh thì mới là một trong những điều kiện để người HĐKC hưởng trợ cấp. Tuy nhiên, thời điểm này Bộ Y tế cũng không quy định cụ thể các DDDT bẩm sinh của con đẻ người HĐKC là những DDDT như thế nào.

Ngày 04/5/2012, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 1488/2012/QĐ-BYT phê duyệt tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán bệnh, tật, DDDT có liên quan đến phơi nhiễm CĐHH”. Tuy nhiên, trong quyết định này không quy định về DDDT “Vẩy nến” bệnh của anh T2 như tài liệu trong hồ sơ ông Vũ Quốc T đã lập.

Ngày 09/4/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 31/2013/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Pháp lệnh ưu đãi người có công với Cách mạng số 26/2005/PLUBTVQH và số 04/2012/PL-UBTVQH, tại mục 8, Điều 39 quy định về điều kiện xác nhận người HĐKC bị nhiễm CĐHH: điểm c khoản 2 “sinh con DDDT theo danh mục DDDT do Bộ Y tế quy định”. Như vậy, chỉ những DDDT được Bộ Y tế quy định mới là điều kiện xác nhận người HĐKC bị nhiễm CĐHH.

Ngày 15/5/2013, Bộ LĐTBXH ban hành Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH hướng dẫn về lập hồ sơ, quản lý hồ sơ, thực hiện chế độ ưu đãi người có công với Cách mạng và thân nhân, tại điểm b khoản 3 Điều 27 mục 8 quy định “Người HĐKC bị nhiễm CĐHH không mắc bệnh theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 39 của Nghị định nhưng sinh con DDDT được Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền kết luận”. Như vậy, văn bản này đã quy định, để xác định con của người HĐKC bị DDDT bẩm sinh phải có kết luận của Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền.

Ngày 18/11/2013, Bộ Y tế, Bộ LĐTBXHban hành Thông tư liên tịch số 41/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH hướng dẫn khám giám định bệnh tật, DDDT có liên quan đến phơi nhiễm CĐHH đối với người HĐKC và con đẻ của họ, văn bản này đã quy định danh mục DDDT có liên quan đến phơi nhiễm CĐHH của con đẻ người HĐKC, trong đó khoản 16 Điều 2 quy định “Các DDDT bẩm sinh”; Khoản 17 Điều 2 quy định “Tật gai sống chẻ đôi”.

Đối chiếu quy định trong các văn bản nêu trên, hồ sơ hưởng chế độ trợ cấp người HĐKC bị nhiễm CĐHH của ông Vũ Quốc T là không đúng quy định.

Kết luận thanh tra số 44/KL-Ttr ngày 02/4/2015 của Thanh tra Bộ LĐTBXH kết luận thiếu sót của Sở LĐTBXHtỉnh Thái Bình khi tiến hành xác lập, xét duyệt, xác nhận hồ sơ đối với người HĐKC bị nhiễm CĐHH sinh con DDDT; trong đó có nêu “…nhiều trường hợp y tế cấp xã, huyện chưa đủ cơ sở để xác định là DDDT bẩm sinh như: cận thị bẩm sinh, mẩn ngứa bẩm sinh, biến dạng lồng ngực…”.

Thực hiện Kết luận thanh tra của Thanh tra Bộ Lao động - Thương Binh và Xã hội, Sở LĐTBXHtỉnh Thái Bình đã triển khai rà soát, thực chứng lại toàn bộ hồ sơ người HĐKC bị nhiễm CĐHH tại tỉnh Thái Bình, trong đó có trường hợp của ông Vũ Quốc T.

Quá trình thực chứng (theo Phiếu kiểm tra xác định tình trạng dị dạng, dị tật của con đẻ người HĐKC ngày 27/9/2017), tổ thực chứng kết luận anh Vũ Văn T2 “Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, không liệt thần kinh khu trú; trí nhớ, trí tuệ bình thường; Vẩy nến (GRV của BVĐK TH 2007); khai đau lưng, cúi khó” không bị DDDT bẩm sinh. Ngày 01/3/2018, Sở LĐTBXHtỉnh Thái Bình đã họp các tổ thực chứng để kết luận tình trạng DDDT của con đẻ người HĐKC sau khi thực chứng và ban hành danh sách con đẻ người HĐKC không mắc DDDT do hậu quả của CĐHH, trong đó có trường hợp của anh Vũ Văn T2 con ông Vũ Quốc T. Ngày 01/10/2018, hội nghị công khai kết quả rà soát, thực chứng con đẻ trong hồ sơ hưởng chính sách đối với người HĐKC bị nhiễm CĐHH sinh con DDDT tại xã NH, đã công khai danh sách người HĐKC có con đẻ trong hồ sơ mắc DDDT bẩm sinh (không có trường hợp của ông Vũ Quốc T).

Tạo điều kiện cho người HĐKC bổ sung hồ sơ theo đúng quy định pháp luật để tiếp tục được hưởng chế độ trợ cấp, Sở LĐTBXHtỉnh Thái Bình hướng dẫn ông Vũ Quốc T nếu bản thân ông mắc bệnh theo Thông tư số 20/2016/TTLT-BYT-BLĐTBXH hoặc có con khác mắc DDDT bẩm sinh, kể cả con đẻ mắc DDDT đã chết thì lập hồ sơ bổ sung. Hướng dẫn này của Sở LĐTBXHtỉnh Thái Bình nhằm tạo điều kiện cho người HĐKC hoàn thiện hồ sơ theo quy định để duy trì trợ cấp. Ông Vũ Quốc T đã bổ sung hồ sơ sinh con DDDT đã chết, tuy nhiên tài liệu bổ sung là các văn bản xác nhận của cơ sở y tế và nhân viên y tế, xác nhận lại sự việc mà không có hồ sơ gốc hợp pháp, hợp lệ. Hồ sơ bổ sung của ông Vũ Quốc T không đảm bảo điều kiện theo quy định tại điểm 5.2 Điều 5 phần I của Quyết định số 3459/QĐ-BYT ngày 31/7/2017 của Bộ Y tế về việc phê duyệt tài liệu hướng dẫn giám định y khoa bệnh, tật, DDDT có liên quan đến phơi nhiễm CĐHH/Dioxin: “Trường hợp con đẻ người HĐKC bị phơi nhiễm với CĐHH/dioxin bị DDDT đã chết, mà tại thời điểm khám giám định đối với người HĐKC có cung cấp hồ sơ điều trị (Giấy ra viện hoặc Bệnh án điều trị của cơ sở y tế) hợp lệ, hợp pháp xác định được DDDT bẩm sinh của con đẻ người HĐKC, thì Hội đồng GĐYK căn cứ hồ sơ này để kết luận đối với cha đẻ, mẹ đẻ là người HĐKC bị phơi nhiễm với CĐHH/dioxin theo quy định hiện hành”.

UBND tỉnh Thái Bình đã có Báo cáo số 41/BC-UBND ngày 27/5/2020 đề nghị Bộ LĐTBXHcho phép người HĐKC được bổ sung hoàn thiện hồ sơ trên cơ sở xác nhận của Trạm Y tế cấp xã, ý kiến làm chứng của cán bộ Trạm Y tế xã thời kỳ điều trị, theo dõi tình trạng DDDT của con đẻ người HĐKC, ý kiến của người cùng thôn xóm nơi đối tượng cư trú… được công khai minh bạch tại thôn, xóm, được địa phương và Hội đồng chính sách cấp xã xác nhận, kết luận rõ tình trạng DDDT của con đẻ của người HĐKC (đã chết), được UBND cấp huyện thẩm định, thống nhất sẽ đủ điều kiện xác nhận người HĐKC bị nhiễm CĐHH sinh con DDDT đã chết để tiếp tục hưởng chính sách. Tuy nhiên Bộ LĐTBXHcó văn bản số 2319/LĐTBXH-TTr ngày 25/6/2020 trả lời đề nghị của UBND tỉnh Thái Bình không có căn cứ pháp lý để chấp nhận. Do đó, hồ sơ bổ sung của ông Vũ Quốc T không đủ điều kiện được hưởng chế độ trợ cấp đối với người HĐKC bị nhiễm CĐHH.

Vì vậy, ngày 24/12/2020, Giám đốc Sở LĐTBXHtỉnh Thái Bình ban hành Quyết định số 1606/QĐ-SLĐTBXH ngừng thực hiện chế độ đối với người HĐKC bị nhiễm CĐHH đối với ông Vũ Quốc T là đúng quy định pháp luật. Việc Giám đốc Sở LĐTBXHtỉnh Thái Bình ban hành Quyết định số 1606/QĐ-SLĐTBXH là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 54/2006/NĐ-CP và điểm 1.3 khoản 1 mục VII phần I Thông tư số 07/2006/TT-BLĐTBXH.

Đối với Quyết định số 747/QĐ-SLĐTBXH ngày 09/11/2021 về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) đối với khiếu nại của ông Vũ Quốc T của Giám đốc Sở LĐTBXHtỉnh Thái Bình:

Để giải quyết khiếu nại của ông Vũ Quốc T, Giám đốc Sở LĐTBXH tỉnh Thái Bình đã thụ lý khiếu nại, quyết định thành lập đoàn xác minh nội dung khiếu nại, thu thập các tài liệu liên quan. Tiến hành đối thoại với người khiếu nại. Ngày 09/11/2021, Giám đốc Sở LĐTBXH tỉnh Thái Bình ban hành Quyết định số 747/QĐ-SLĐTBXH về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của ông Vũ Quốc T. Như vậy, về trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết khiếu nại (lần đầu) của Giám đốc Sở LĐTBXH tỉnh Thái Bình là có căn cứ, đúng quy định tại các Điều 20, 27, 29, 30, 31 luật Khiếu nại năm 2011. Về thể thức văn bản đúng quy định mẫu số 15 ban hành kèm theo Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính Phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính.

Về nội dung: Quyết định số 747/QĐ-SLĐTBXH ngày 09/11/2021 có nội dung công nhận và giữ nguyên nội dung Quyết định số 1606/QĐ-SLĐTBXH ngày 24/12/2020 về việc ngừng thực hiện chế độ ưu đãi người HĐKC bị nhiễm CĐHH đối với ông Vũ Quốc T - là có căn cứ như đã phân tích tại mục [1] nêu trên.

Quá trình giải quyết vụ án, ông T không cung cấp được chứng cứ bổ sung, thực chứng anh Vũ Văn T2 không mắc DDDT bẩm sinh theo quy định tại Quyết định số 09/2008/QĐ-BYT ngày 20/02/2008, Thông tư liên tịch số 41/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH ngày 18/11/2013, Thông tư số 20/2016/TTLT-BYT-BLĐTBXH ngày 30/6/2016. Dó đó, các cơ sở pháp lý người bị kiện làm căn cứ để ngừng trợ cấp và giải quyết khiếu nại đối với ông T là đúng pháp luật, vì vậy yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Quốc T không có cơ sở chấp nhận.

Về án phí: Ông Vũ Quốc T là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí, vì vậy miễn án phí hành chính sơ thẩm cho ông Vũ Quốc T.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 1 Điều 158, điểm a, b khoản 1 Điều 168, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 204, Điều 206 và khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; Điều 20, 27, 29, 30, 31 Luật Khiếu nại năm 2011; Điều 26 Pháp lệnh ưu đãi người có công với Cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11; Điều 22, 23 Nghị định số 54/2006/NĐ-CP ngày 26/5/2006 của Chính phủ; Mục VII phần I Thông tư số 07/2006/TT-BLĐTBXH và Điều 3 Thông tư số 25/2007/TT-BLĐTBXH của Bộ LĐTBXH; Khoản 16 Điều 1 Quyết định số 09/2008/QĐ-BYT và Quyết định số 1488/2012/QĐ-BYT của Bộ Y tế; Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với Cách mạng số 26/2005/PL; Điểm c khoản 2 Điều 39 mục 8 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 của Chính Phủ; điểm b khoản 3 Điều 27 mục 8 Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2013 của Bộ LĐTBXH; khoản 16 Điều 2 Thông tư liên tịch số 41/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH ngày 18/11/2013 của Bộ Y tế, Bộ LĐTBXH; điểm 5.2 Điều 5 phần I Quyết định số 3459/2017/QĐ-BYT ngày 31/7/2017 của Bộ Y tế.

2. Bác đơn khởi kiện của ông Vũ Quốc T yêu cầu hủy Quyết định số 1606/QĐ-SLĐTBXH ngày 24/12/2020 về việc ngừng thực hiện chế độ đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và yêu cầu hủy Quyết định số 747/QĐ-SLĐTBXH ngày 09/11/2021 về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) đối với ông Vũ Quốc T của Giám đốc Sở LĐTBXH tỉnh Thái Bình.

3. Án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hành chính sơ thẩm cho ông Vũ Quốc T.

4. Về quyền kháng cáo: Người khởi kiện, người bị kiện có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.

Cỡ chữ