vanban.org

Bản án 17/2022/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Thành B đòi anh Huỳnh Lam Tr bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.

Buộc anh Huỳnh Lam Tr bồi thường cho ông Hồ Thanh B số tiền 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng). Đình chỉ xét xử do ông B rút yêu cầu khởi kiện đòi anh Tr bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm số tiền 28.000.000đ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Hồ Thanh B - Nguyễn Văn B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Thành B đòi anh Huỳnh Lam Tr bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHƯỚC LONG
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2022/DS-ST
Ngày: 19/4/2022
V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại
do tài sản bị xâm phạm.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Cung

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đỗ Thị Gành

Ông Huỳnh Quốc Khuyên

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 81/2021/TLST-DS ngày 08 tháng 11 năm 2021 về việc “tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2022/QĐXXST- DS ngày 18 tháng 02 năm 2022, giữa:

Nguyên đơn: Ông Hồ Thanh B, sinh năm 1964;

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

Đồng bị đơn: Anh Nguyễn Văn B (Thanh B), sinh năm 1995;

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

Anh Huỳnh Lam Tr, sinh năm 2001;

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Kim T, sinh năm 1975;

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

Ông Hồ Thanh B, bà T có mặt; các đương sự còn lại vắng mặt lần thứ hai

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05.11.2021 và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Hồ Thanh B trình bày:

Vào ngày 15/12/2020 anh Huỳnh Lam Tr câu trộm cá bống tượng của ông số lượng 06 con (01 con trọng lượng 0,5kg; 01 con trọng lượng 0,7kg; 04 con trọng lượng mỗi con 300g). Quá trình làm việc tại công an xã B anh Tr khai nhận có cùng anh Nguyễn Văn B là người cùng ấp, cùng câu trộm cá bống tượng của ông, đối với giá cá bống tượng tại thời điểm ngày 25/12/2020 có giá (loại cá 0,5kg/con trở lên có giá 270.000đ, còn loại 0,5kg trở xuống có giá 190.000đ/kg), do ông mất số lượng cá rất nhiều nên ông yêu cầu anh Huỳnh Lam Tr bồi thường số tiền 40.000.000đ, anh Nguyễn Văn B bồi thường số tiền 10.000.000đ. Tuy nhiên nay ông rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu anh Tr bồi thường số tiền 12.000.000đ, anh B bồi thường 4.000.000đ. Ngoài yêu cầu nêu trên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết thêm vấn đề nào khác.

Quá trình làm việc tại Tòa án đồng bị đơn anh Huỳnh Lam Tr trình bày: Vào ngày 15/12/2020 anh thừa nhận có câu trộm 06 con cá bống tượng như ông B trình bày. Ngoài lần trộm ngày 15/12/2020 thì trước đây anh cũng có nhiều lần câu trộm cá của ông B, nhưng không xác định được số lượng bao nhiêu. Nay ông B yêu cầu anh bồi thường số tiền 12.000.000đ anh đồng ý. Anh đồng ý với giá cá bống tượng tại thời điểm ngày 25/12/2020 có giá (loại cá 0,5kg/con trở lên có giá 270.000đ, còn loại 0,5kg trở xuống có giá 190.000đ/kg).

Đồng bị đơn anh Nguyễn Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần tham dự phiên họp và hòa giải nhưng anh B vắng mặt tại địa phương. Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh B đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, lập biên bản không hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Kim T trình bày: Bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Thanh B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P trình bày quan điểm:

+ Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với đương sự: từ khi tham gia tố tụng đến nay, các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Đồng bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Huỳnh Lam Tr. Buộc anh Tr bồi thường cho ông B số tiền 12.000.0000đ.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông B yêu cầu anh Tr bồi thường số tiền 28.000.000đ, yêu cầu anh B bồi thường số tiền 6.000.000đ.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B yêu cầu anh Nguyễn Văn B bồi thường số tiền 4.000.000đ. Án phí các đương sự phải có nghĩa vụ nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; sau khi nghe ý kiến phát biểu đề xuất của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Ông Hồ Thanh B yêu cầu anh Huỳnh Lam Tr và anh Nguyễn Văn B bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. Anh Tr và anh B cư trú tại huyện P nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện P theo quy định tại Điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, anh Tr, anh B vắng mặt lần thứ hai dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ; Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Tr, anh B là phù hợp quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm của ông Hồ Thanh B:

Ông Hồ Thanh B yêu cầu anh Huỳnh Lam Tr bồi thường số tiền 12.000.000đ do anh Tr có hành vi câu trộm cá bống tượng của ông B, quá trình làm việc tại Tòa án anh Tr thừa nhận có trộm cá bống tượng của ông B và đồng ý bồi thường cho ông B số tiền 12.000.000đ cho ông B. Do đó ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự buộc anh Huỳnh Lam Tr bồi thường cho ông Hồ Thanh B số tiền 12.000.000đ.

. Xét yêu cầu của ông Hồ Thanh B yêu cầu anh Nguyễn Văn B bồi thường số tiền 4.000.000đd do anh B có hành vi câu trộm cá bống tượng của ông. Xét thấy, vào thời điểm sảy ra sự việc ngày 15/12/2020 mặc dù không có mặt anh Nguyễn Văn B thực hiện hành vi câu trộm cá của ông Hồ Thanh B, ông B cũng không chứng minh được ông bị thiệt hại số lượng bao nhiêu. Tuy nhiên quá trình làm việc tại công an xã Phong Thạnh Tây B cụ thể tại biên bản ghi lời khai ngày 19/12/2020 (Bút lục 28) và tại biên bản tự thỏa thuận ngày 25/12/2020 (Bút lục 04) anh Nguyễn Văn B thừa nhận có thực hiện hành vi câu trộm cá bống tượng của ông B và tự nguyện bồi thường cho ông B số tiền 4.000.000đ “tôi thống nhất với yêu cầu của ông Hồ Thanh B là đồng ý bồi thường 4.000.000đ nhưng vào ngày 05 hàng tháng phải bồi thường cho ông B 2.000.000đ. ngày 05/2/2021 và ngày 05/03/2021”. Xét thấy nguyên tắc bồi thường thiệt hại khi sảy ra tranh chấp là cần phải tôn trọng thỏa thuận của các bên về mức bồi thường và phương thức bồi thường, việc thỏa thuận nêu trên của các đương sự là không trái pháp luật, đạo đức xã hội. Do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của các bên về mức bồi thường 4.000.000đ. Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử buộc anh Nguyễn Văn B bồi thường cho ông Hồ Thanh B số tiền 4.000.000đ.

Tại phiên tòa, ông Hồ Thanh B rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu anh Tr bồi thường thiệt hại số tiền 28.000.000đ, anh B bồi thường số tiền 6.000.000đ. Xét thấy, việc ông Hồ Thanh B rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận, căn cứ vào Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện đã rút.

Xét đề nghị của kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp một phần như Hội đồng xét xử phân tích nêu trên nên được chấp nhận một phần.

Về án phí: Ông Hồ Thanh B không phải nộp án phí. Anh Huỳnh Lam Tr, anh Nguyễn Văn B phải nộp án phí đối với yêu cầu của ông Hồ Thanh B được Tòa án chấp nhận theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 5, 26, 35, 39, 147, Điều 228, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Thành B đòi anh Huỳnh Lam Tr bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.

Buộc anh Huỳnh Lam Tr bồi thường cho ông Hồ Thanh B số tiền 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng).

Đình chỉ xét xử do ông B rút yêu cầu khởi kiện đòi anh Tr bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm số tiền 28.000.000đ

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Thanh B đòi anh Nguyễn Văn B bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.

Buộc anh Nguyễn Văn B bồi thường cho ông Hồ Thanh B số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng).

Đình chỉ xét xử do ông B rút yêu cầu khởi kiện đòi anh B bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm số tiền 6.000.000đ

3. Về án phí: Ông Hồ Thanh B không phải nộp án phí. Hoàn lại cho ông Hồ Văn B số tiền đã nộp tạm ứng án phí 1.250.000đ tại lai thu số 0004848 ngày 08/11/2021. Buộc anh Huỳnh Lam Tr phải nộp số tiền 600.000đ, buộc anh Nguyễn Văn B nộp án phí số tiền 300.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Tr hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ