vanban.org

Bản án 17/2022/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tu ên xử: Chấp nhận một phần êu cầu khởi kiện của ông Trang Văn T.

Buộc anh Trần Văn L bồi thường thiệt hại do sản lượng Bông Súng b giảm sút cho ông Trang Văn T với số tiền 13.920.750 (Mười ba triệu chín trăm năm mươi nghìn bả trăm năm mươi) đồng. Kể từ ngày bản án, quyết đ nh có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có qu ền chủ động ra q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài sản"
  • Tòa quyết gì? Tu ên xử: Chấp nhận một phần êu cầu khởi kiện của ông Trang Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DUYÊN HẢI
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2022/DS-ST
Ngày: 06/4/2022
V/v tranh chấp bồi thường
thiệt hại về tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI, TỈNH VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngu n Th M inh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Thanh Hùng.

Ông Hoàng Sĩ Thạo.

- Thư ký phiên tòa: Bà iêng Th Kim Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân hu ện D, tỉnh V.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh V tham gia phiên toà: Ông Diệp Tấn S - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 7 năm 2021 và ngà 06 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân hu ện D, tỉnh V xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 144/2020/TLST-DS ngày 20 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài sản theo Qu ết đ nh đưa vụ án ra xét xử số: 34/2021/QĐXXST - DS ngày 24 tháng 5 năm 2021 và Qu ết đ nh đưa vụ án ra xét xử số: 28/2022/QĐXXST - DS ngày 15 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trang Văn T, sinh năm 1959. Đ a chỉ: ấp CC, xã LV, hu ện D, tỉnh V. (có mặt tại phiên tòa ngà 13/7/2021).

Người đại diện theo ủ qu ền của ông Trang Văn T là bà ê Th H theo văn bản ủ qu ền ngà 22/3/2022 (có mặt tại phiên tòa).

2. Bị đơn: Anh Trần Văn L, sinh năm 1970. Đ a chỉ: ấp TL, xã LV, hu ện D, tỉnh V; (có mặt tại phiên tòa ngà 13/7/2021, vắng mặt không có lý do tại phiên tòa ngày 06/4/2022).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Huỳnh Văn S, sinh năm 1952. Đ a chỉ: ấp CC, xã LV, hu ện D, tỉnh V (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Anh Trần Văn C, sinh năm 1977. Đ a chỉ: ấp T, xã LK, hu ện D, tỉnh V (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bà ê Th H, sinh năm 1964. Đ a chỉ: ấp CC, xã LV, hu ện D, tỉnh V (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Trang Văn T và người đại là bà Lê Thị H trình bày: anh Trần Văn L là người thi công việc sang lấp mặt bằng cho anh Trần Văn C, nơi cư trú: ấp T, xã LK, hu ện D, tỉnh V. Trong quá trình thi công vào tháng 02/2020 (âm l ch) có nước mặn tràn vào ao đang trồng câ Bông Súng của ông T dẫn đến thiệt hại về Bông Súng làm mất thu nhập của gia đình ông T. Ngoài ra, do nước trong ao b nhi m mặn nên ông T không thể lấ nước trong ao lên để tưới hoa màu. Vì vậ , tại đơn khởi kiện ngà 17/9/2020 ông T êu cầu anh Trần Văn L bồi thường thiệt hại như sau:

- Về Bông Súng: 4 tấn/năm x 8.000 đồng/kg = 24.000.000 đồng.

- Về hoa màu: 7 tấn 200 kg/năm x 8.000 đồng = 36.000.000 đồng.

Tu nhiên, sau đó ông T tự ngu ện rút lại êu cầu khởi kiện đối với anh L về hoa màu 7 tấn 200 kg/năm x 8.000 đồng = 36.000.000 đồng mà ông T đã êu cầu tại đơn khởi kiện ngà 17/9/2020 và giữ ngu ên êu cầu khởi kiện buộc anh Trần Văn L bồi thường thiệt hại về Bông Súng trong thời gian 01 năm tính từ ngà 16/7/2020 (dương l ch) đến tháng 07/2021 (dương l ch) với số lượng 4 tấn/năm x 8.000 đồng/kg = 24.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, ông T tiếp tục rút lại một phần êu cầu thiệt hại về Bông Súng. Cụ thể, ông T êu cầu anh L bồi thường theo kết quả đ nh giá, giá tr thiệt hại của Hội đồng đ nh giá trong tố tụng dân sự tại biên bản đ nh giá tài sản ngà 26/4/2021 là 18.564.000 đồng.

Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa bị đơn anh Trần Văn L trình bày: vào tháng 12/2019 (âm l ch) anh L có nhận sang lấp mặt bằng cho anh Trần Văn C. Để thi công anh L có hỏi mượn phần đất của ông Huỳnh Văn S tọa lạc tại ấp CC, xã LV, hu ện D, tỉnh V để thoát nước mặn qua đất (cái ao) của ông S. Do đất của ông S được anh L sử dụng để chứa nước mặn, giáp với ao Bông Súng của ông T, nên có một phần nước mặn thấm vào đất, rò rỉ qua ao Bông Súng của ông T nên anh L nhận thấ có ảnh hưởng một phần đến sự S trưởng của câ Bông Súng. Vì vậ , anh L đồng ý bồi thường cho ông T số tiền 3.000.000 đồng để khắc phục cho số lượng câ Bông Súng của ông T b thiệt hại.

Ngoài ra, anh Trần Văn L còn trình bày, khi sang lấp mặt bằng cho anh Trần Văn C, giữa anh L và anh C có thỏa thuận, mọi vấn đề phát S về thiệt hại anh L sẽ tự ch u trách nhiệm. Vì vậ , trong vụ án nà anh uận sẽ tự ch u trách nhiệm, không êu cầu anh C cùng liên đới ch u trách nhiệm.

Tại bản tự khai ngày 13/4/2021 anh Trần Văn C trình bày: Vào cuối năm 2019 anh có thuê anh Trần Văn L để sang lấp mặt bằng trên phần đất của anh. Hai bên thỏa thuận, anh L có trách nhiệm dùng máy bơm đất, sang lấp mặt bằng cho anh C trên phần đất có diện tích 03 công (3.000m2). Trong quá trình thực hiện, việc thoát nước do anh L ch u trách nhiệm nên việc anh L hỏi mượn đất của ông Huỳnh Văn S để thoát nước, phía anh C không ha biết. Đối với việc tranh chấp bồi thường thiệt hại giữa ông T và anh L, phía anh C không có ý kiến, vì anh C cho rằng đâ là việc giữa anh L và ông T.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/4/2021 ông Huỳnh Văn S trình bày: ông không nhớ rõ thời gian, nhưng ông S trình bày anh Trần Văn L có hỏi ông S cho đặt đường ống dẫn nước đi ngang qua đất của ông, không có việc hỏi mượn đất của ông để cho thoát nước qua. Việc anh L tự ý thoát nước mặn qua đất, ông S không ha biết nên đối với việc tranh chấp bồi thường thiệt hại giữa ông T và anh L thì để hai người tự giải qu ết, ông không có ý kiến gì và cũng không êu cầu gì đối với anh L.

Tại bản tự khai ngày 13/7/2021 và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H trình bày: Diện tích đất ao Bông Súng mà vợ chồng bà đang canh tác, quản lý là thuộc các thửa 715, 716, 717 có nguồn gốc từ cha của bà H là ông ê Bá Dặm (đã chết) nhận chu ển nhượng từ bà Trần Th Thu và ông Trần Văn Hoàng (đã chết). Bà và ông T cùng nhau canh tác và trồng cây Bông Súng trên 03 (ba) thửa đất nà đã hơn 10 năm. Đối với êu cầu bồi thường thiệt hại bà thống nhất ý kiến với ông Trang Văn T, là êu cầu anh Trần Văn L bồi thường thiệt hại về Bông Súng bằng số tiền 18.564.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân hu ện D, tỉnh V, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải qu ết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán về việc giải qu ết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đúng các qu đ nh của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng ngu ên đơn, người đại diệp theo ủ qu ền của ngu ên đơn có mặt theo thông báo, giấ triệu tập của Tòa án, người qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Huỳnh Văn S và ông Trần Văn C thì đề ngh xét xử vắng mặt theo qu đ nh của pháp luật. Riêng b đơn thực hiện nghĩa vụ của b đơn chưa đảm bảo theo qu đ nh tại Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải qu ết vụ án:

Qua hồ sơ vụ án, căn cứ lời khai của đương sự và di n biến phiên tòa ông Trang Văn T yêu cầu anh L bồi thường thiệt hại tài sản với số tiền 18.564.000 đồng. Xét thấy anh L thừa nhận có nước mặn do anh L bơm lên và chứa lại bên ao của ông S b rò rỉ qua ao trồng cây Bông Súng của ông T làm ảnh hưởng đến cây Bông Súng của ông T nên có cơ sở để xem xét yêu cầu bồi thường của ông T. Về mức bồi thường căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy thực tế thiệt hại của ông T là sản lượng thu hoạch Bông Súng b giảm sút theo thời gian và ông T không cung cấp được chứng cứ, chứng minh sản lượng Bông Súng b giảm sút là bao nhiêu để Hội đồng xét xử xem xét, quyết đ nh. Vì vậ , đề ngh Hội đồng xét xử căn cứ vào Biên bản đ nh giá ngày 26/4/2021 giá tr thiệt hại thực tế về cây Bông Súng của ông T là 18.564.000 đồng để xem xét mức bồi thường. Tuy nhiên, khi quyết đ nh mức bồi thường, đề ngh HĐXX căn nhắc, so sánh mức độ thiệt hại thực tế, mức độ sụt giảm, các yếu tố S trưởng của cây Bông Súng và mức độ lỗi của b đơn là lỗi vô ý để giảm một phần mức bồi thường cho b đơn. Đối với việc ông Trang Văn T tự nguyện rút lại yêu cầu khởi kiện bồi thường về hoa màu với số tiền 36.000.000 đồng và phần chênh lệch đối với yêu cầu bồi thường Bông Súng từ số tiền 24.000.000 đồng xuống còn 18.564.000 đồng là phù hợp với qu đ nh của pháp luật nên Đề ngh Hội đồng xét xử xem xét đình chỉ giải quyết yêu cầu.

Từ đó, đề ngh Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; 228 và Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015; Ngh qu ết số 326/2016/UBTVQH14, ngà 30/12/2016 của Ủ ban thường vụ Quốc hội, qu đ nh mức thu, mi n, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án giải qu ết vụ án như sau:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trang Văn T;

- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông T đối với số tiền 36.000.000 đồng mà ông T khởi kiện yêu cầu bồi thường về hoa màu;

- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện đối với số tiền chênh lệch mà ông T yêu cầu bồi thường Bông Súng từ số tiền 24.000.000 đồng xuống còn 18.564.000 đồng.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: buộc anh Luận ch u án phí đối với phần yêu cầu được chấp nhận. Ông Trang Văn T là người cao tuổi và có đơn xin mi n nộp tạm ứng án phí nên ông Trang Văn T được mi n án phí.

Những êu cầu, kiến ngh đề ngh cần khắc phục: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được Thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh:

. Về quan hệ pháp luật và thẩm qu ền giải qu ết: ngu ên đơn ông Trang Văn T khởi kiện êu cầu anh Trần Văn L, đ a chỉ ấp TL, xã LV, hu ện D, tỉnh V bồi thường thiệt hại về hoa màu với số tiền 36.000.000 đồng và Bông Súng với số tiền 24.000.000 đồng (theo đơn khởi kiện). Đâ là quan hệ pháp luật tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà cụ thể là về tài sản và thuộc thẩm qu ền giải qu ết của Tòa án cấp hu ện được qu đ nh tại khoản 6 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

2 . Về tố tụng: Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vào ngà 13/7/2021, nhưng tại phiên tòa do phát S tình tiết mới cần xác minh làm rõ nên phiên tòa tạm ngừng tại mục hỏi và đáp trong phần tranh tụng tại phiên tòa theo đề ngh của v Kiểm sát viên. Sau thời gian tạm ngừng và tạm đình chỉ để xác minh làm rõ đến ngà hôm na , tức ngà 06/4/2022 Tòa án mở lại phiên tòa tiếp tục xét xử vụ án. Nhận thấ , phía ngu ên đơn đã thực hiện đúng qu ền và nghĩa vụ theo qu đ nh. Người có qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn S, anh Trần Văn C có đơn xin xét xử vắng mặt theo qu đ nh của pháp luật. Người có qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan bà ê Th H đã thực hiện đúng qu ền và nghĩa vụ theo qu đ nh. Riêng b đơn trong quá trình giải qu ết vụ án và tại phiên tòa thực hiện chưa đảm bảo nghĩa vụ theo qu đ nh của Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậ , Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành xét xử vụ án vắng mặt b đơn tại phiên tòa ngà 06/4/2022 theo qu đ nh tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về nội dung vụ án: tại phiên ngà 06/4/2022 người đại diện của ông T là bà ê Th H giữ ngu ên ý kiến trình bà và êu cầu của ông Trang Văn T đã trình bà tại phiên tòa ngà 13/7/2021. Cụ thể, ông T êu cầu anh Trần Văn L bồi thường thiệt hại về câ Bông súng với số tiền 18.564.000 đồng và xin rút lại các êu cầu khởi kiện bồi thường 36.000.000 đồng về hoa màu và số tiền chênh lệch từ 24.000.000 đồng xuống còn 18.564.000 đồng đối với câ Bông Súng. Phía b đơn anh L trong quá trình giải qu ết vụ án và tại phiên tòa ngà 13/7/2021 đồng ý bồi thường cho ông T số tiền 3.000.000 đồng đối với câ Bông Súng, không đồng ý bồi thường số tiền 18.564.000 đồng mà ông T êu cầu.

4 . Xét êu cầu khởi kiện của ngu ên đơn ông Trang Văn T êu cầu anh Trần Văn L bồi thường thiệt hại do cây Bông Súng b nhi m mặn với số tiền 18.564.000 đồng. Nhận thấ , trong quá trình giải qu ết vụ án và tại phiên tòa, anh Trần Văn L thừa nhận việc anh L thoát nước mặn qua đất của ông Huỳnh Văn S, mà đất ông S giáp ranh với ao trồng câ Bông Súng của ông T, nên có một phần nước mặn thấm vào đất rò rỉ qua ao Bông Súng của ông T là có thật, làm ảnh hưởng đến sự S trưởng và phát triển của cây Bông Súng do ông T trồng. Do nước mặn thấm vào đất và rò rỉ dần theo thời gian nên cả hai bên không xác đ nh được khối lượng nước mặn từ ao của ông S rò rỉ qua ao bông Súng của ông T là bao nhiêu. Nhưng anh L đồng ý bồi thường cho ông Tủ số tiền là 3.000.000 đồng. Như vậ , cho thấ việc câ Bông Súng của ông T b nhi m nước mặn làm ảnh hưởng đến sự S trưởng và phát triển của cây là tình tiết có thật, được hai bên đương sự thừa nhận. Đâ là tình tiết không cần phải chứng minh theo qu đ nh tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về mức bồi thường, tại Biên bản đ nh giá ngà 26/4/2021 Hội đồng đ nh giá trong tố tụng dân sự xác đ nh giá tr thiệt hại hoàn toàn tại thời điểm thẩm đ nh là 60% với số tiền 37.128.000 đồng và sau khi loại trừ 50% do đặt tính S trưởng vào ngh ch mùa (tức tại thời điểm thẩm đ nh tại chỗ ngà 26/02/2021 rơi vào mùa khô là ngh ch mùa cây Bông Súng) thì giá tr thiệt hại thực tế được xác đ nh là 18.561.000 đồng. Như vậ , Hội đồng xét xử căn cứ vào giá tr thực tế được xác đ nh là 18.561.000 đồng để xem xét mức bồi thường. Nhận thấ , tại biên bản lấ lời khai ngày 11/11/2020; biên bản hòa giải ngà 04/12/2020; biên bản lấ lời khai ngà 26/4/2021 và lời trình bà tại phiên tòa. Ông T thừa nhận, do ảnh hưởng của nước mặn câ Bông Súng của ông giảm sút về sản lượng và câ bắt đầu chết dần theo thời gian, nhưng không chết hoàn toàn. Thời điểm câ Bông Súng bắt đầu b ảnh hưởng được ông T xác đ nh là tháng 04/2020 (âm l ch), nhưng từ tháng 04/2020 (âm l ch) đến tháng 11/2020 (âm l ch) ông vẫn có Bông Súng để thu hoạch, tu nhiên sản lượng chỉ bằng ừ⁄ so với những năm trước. Đồng thời, tại thời điểm thẩm đ nh ngà

ử 26/02/2021 câ Bông Súng trong ao của ông vẫn còn 40% so với mặt nước. Đến ngà 23/4/2021 (tức ngà 12/3/2021 âm l ch) và ngà 14/5/2021 (tức ngà 03/4/2021 âm l ch) nhận thấ thời tiết năm 2021 đã có những cơn mưa đầu mùa và cây Bông Súng trong ao của ông T S trưởng và phát triển nhiều hơn so với thời điểm thẩm đ nh thông qua bản ảnh ngà 23/4/2021 và ngà 14/5/2021. Như vậ , có đủ căn cứ cho thấ thiệt hại của ông T là giảm sút về sản lượng theo thời gian, nhưng không hoàn toàn và tái S vào mùa thuận nên Hội đồng xét xử nhận thấ mức thiệt hại của ông T chỉ Cếm ¾ so với giá tr thiệt hại thực tế tại thời điểm thẩm đ nh, tức là thiệt hại bằng ¾ x 18.561.000 đồng = 13.920.750 đồng. Hơn nữa, xét về ếu tố lỗi nhận thấ , mặc dù trong quá trình thi công anh L có tôn cao bờ để nước mặn không tràn qua ao Bông Súng của ông T, do giữa ao chứa nước mặn và ao Bông Súng nước ngọt có một bờ đất chung nên khả năng nước mặn thấm vào đất và chả qua ao Bông Súng là rất lớn, nhưng anh L không nghĩ đến, khi câ Bông Súng của ông T bắt đầu b chết thì anh L mới dự đoán được vấn đề nà . Như vậ , cho thấ lỗi của anh L ở đâ là lỗi vô ý nên việc Hội đồng xét xử xem xét giảm ừ⁄ so với giá tr thiệt hại thực tế như đã nêu trên

ử

là phù hợp với qu đ nh tại Điều 589 Bộ luật dân sự. Do đó, êu cầu bồi thường số tiền 18.561.000 đồng đồng của ông Trang Văn T không được chấp nhận toàn bộ.

. Xét lời trình bà của b đơn anh Trần Văn L cho rằng sau khi anh thực hiện xong việc sang lấp mặt bằng cho anh C, thì có anh Trần Văn Cầm là người tiếp tục sang lấp mặt bằng cho anh Trần Văn C và có thoát nước qua đất của ông S. Vấn đề nà , Tòa án đã xác minh tại biên bản xác minh ngà 12/10/2021 anh Cầm trình bà thời gian anh bắt đầu tiếp tục bơm đất sang lấp mặt bằng cho anh C là vào tháng 11/2020 (âm l ch), loại đất mà anh Cầm dùng để sang lấp cho anh C là đất cát giồng (loại đất nước ngọt) nên nước thoát qua đất ông S là nước ngọt. Nhận thấ , tại thời điểm anh Cầm bắt đầu thi công cách thời gian anh L thi công là 01 năm, trong khi đó, ông T xác đ nh cây Bông Súng bắt đầu thiệt hại vào tháng 4/2020 (âm l ch). Như vậ , lời trình bà của anh Cầm là phù hợp với lời trình bà của ông T, bà H tại phiên tòa và phù hợp với sự thật khách quan nên không có cơ sở buộc anh Cầm cùng liên đới ch u trách nhiệm theo qu đ nh tại Điều 587 của Bộ luật dân sự.

. Xét về người có qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn C là chủ sử dụng bất động sản có hợp đồng sang lấp mặt bằng với anh L. Trong quá trình thực hiện sang lấp mặt bằng cho anh C, anh L cho rằng anh là người hỏi mượn đất của ông S để thoát nước và người ch u trách nhiệm nếu có xả ra thiệt hại. Đối với người có qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn S trình bày anh L có hỏi mượn đất của ông S để dẫn đường ống nước đi ngang và ông đồng ý, về việc anh L tự ý cho nước mặn thoát qua đất của ông, ông S cũng không ha biết, nhưng ông không có ý kiến ha êu cầu gì. Hơn nữa, ngu ên đơn ông Trang Văn T không êu cầu anh C và ông S cùng liên đới ch u trách nhiệm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải qu ết.

. Quan điểm phát biểu của Kiểm sát viên là có cơ sở, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về án phí: Anh Trần Văn L phải ch u án phí đối với phần êu cầu của ngu ên đơn được chấp nhận. Ông Trang Văn T là người cao tuổi và có đơn xin mi n nộp tiền án phí nên ông Trang Văn T được mi n án phí theo qu đ nh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 6 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; khoản 2 Điều 244; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 của Bộ luận dân sự năm 2015. Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; Điều 15; Điều 26 của Ngh qu ết số 326/2016/UBTVQH14 ngà 30/12/2016 của Ủ ban Thường vụ Quốc hội, qu đ nh mức thu, mi n, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tu ên xử: Chấp nhận một phần êu cầu khởi kiện của ông Trang Văn T.

1. Buộc anh Trần Văn L bồi thường thiệt hại do sản lượng Bông Súng b giảm sút cho ông Trang Văn T với số tiền 13.920.750 (Mười ba triệu chín trăm năm mươi nghìn bả trăm năm mươi) đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết đ nh có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có qu ền chủ động ra qu ết đ nh thi hành án) hoặc kể từ ngà có đơn êu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải ch u khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qu đ nh tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Đình chỉ êu cầu khởi kiện của ông Trang Văn T về việc êu cầu anh Trần Văn L bồi thường thiệt hại về hoa màu với số tiền 36.000.000 (Ba mươi sáu triệu) đồng và đình chỉ một phần êu cầu khởi kiện đối với số tiền 5.439.000 (Năm triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn) đồng là khoản chênh lệch mà ông T tự ngu ện rút lại êu cầu khởi kiện về câ Bông Súng tại phiên tòa.

3. Về án phí: Buộc anh Trần Văn L phải ch u 697.138 (Sáu trăm chín mươi bả nghìn một trăm ba mươi tám) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Trang Văn T được mi n án phí nên không phải ch u án phí đối với phần êu cầu không được chấp nhận.

4. Về qu ền kháng cáo: Án xử sơ thẩm báo cho ngu ên đơn, người có qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt biết có qu ền kháng cáo trong thời hạn 15 ngà kể từ ngày tuyên án. B đơn, người có qu ền lơi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có qu ền qu ền kháng cáo trong thời hạn 15 ngà kể từ ngà bản án được niêm ết hợp lệ hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự;

Cỡ chữ