- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Tùng phạm tội "Chống người thi hành công vụ" - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội: “Chống người thi hành công vụ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2021/HS-ST Ngày 21 - 5 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Văn Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Nhàn
Ông Hồ Xuân Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Lưu Công Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2021/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Thanh T, sinh năm 1995 tại huyện P, Bình Định; nơi cư trú: đường 3/2, khu A, thị trấn N, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: nhân viên thử việc; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1963 và bà Võ Thị T2, sinh năm 1963; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 22/01/2021 đến ngày 28/01/2021 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Cư N, sinh năm 1989; nơi cư trú: thôn V, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
1/ Anh Đào Quốc H, sinh năm 1989; địa chỉ: số nhà 02 đường T, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2/ Anh Trần Ngọc H1, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
3/ Anh Hồ Văn D, sinh năm 1971; địa chỉ: thôn K, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thực hiện Kế hoạch công tác tuần số 04/KH-CATX-GTTT ngày 18/01/2021 của Công an thị xã An Nhơn, sáng ngày 22/01/2020, đồng chí Nguyễn Cư N – cán bộ CSTT cùng một số đồng chí thuộc Tổ 1 được phân công thực hiện nhiệm vụ trên tuyến đường Trường Chinh, phường Nhơn Hưng, thị xã An Nhơn và các tuyến đường khác trong khoảng thời gian từ 06 giờ đến 10 giờ 30 phút, do đồng chí Trần Ngọc H1 làm Tổ trưởng.
Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 22/01/2021, Tổ công tác đứng chốt trước số nhà 235, đường Trường Chinh, phường Nhơn Hưng, đồng chí Đào Quốc H phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 77E1-282.79 do Nguyễn Thanh T điều khiển chạy hướng Bắc –Nam không có gương chiếu hậu, nên ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra. Nguyễn Thanh T giảm tốc độ xe và chạy sát vào lề đường, nhưng không dừng hẳn. Thấy vậy, đồng chí Nguyễn Cư N (đứng cách đồng chí Đào Quốc H khoảng 10m về hướng Nam) tiếp tục ra hiệu lệnh cho Nguyễn Thanh T dừng xe, nhưng Nguyễn Thanh T vẫn điều khiển xe chạy về phía trước và có biểu hiện không chấp hành hiệu lệnh, nên đồng chí Nguyễn Cư N dùng tay trái nắm lấy khung nâng yên xe, yêu cầu Nguyễn Thanh T dừng xe lại. Do biết mình có nhiều lỗi vi phạm, sợ bị xử phạt nặng nên Nguyễn Thanh T tăng ga bỏ chạy. Đồng chí Nguyễn Cư N vẫn nắm giữ khung yên xe của Nguyễn Thanh T và chạy bộ phía sau. Nguyễn Thanh T thấy đồng chí Nguyễn Cư N nắm giữ khung yên xe, nhưng vẫn không cho xe dừng mà còn cho xe tăng tốc, làm đồng chí Nguyễn Cư N té ngã. Nguyễn Thanh T tiếp tục điều khiển xe kéo lê đồng chí Nguyễn Cư N trên đường một đoạn khoảng 17m thì xe mô tô cùng Nguyễn Thanh T và đồng chí Nguyễn Cư N ngã xuống đường. Tổ công tác nhanh chóng khống chế Nguyễn Thanh T giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã An Nhơn xử lý theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKSAN ngày 09 tháng 4 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Thanh T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 330, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội: “Chống người thi hành công vụ”, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 bộ đồ cảnh sát giao thông rách nhiều chỗ và dính bùn đất.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thống nhất với quyết định truy tố, lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn. Tại lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Thanh T nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo tự cải tạo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã An Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định đó. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh T khai nhận hành vi phạm tội, thể hiện: Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 22/01/2021, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 77E1-282.79 tham gia giao thông trên đường Trường Chinh, phường Nhơn Hưng, thị xã An Nhơn, nhưng xe không gắn gương chiếu hậu nên anh Đào Quốc H và anh Nguyễn Cư N là Cảnh sát giao thông ra hiệu lệnh cho Nguyễn Thanh T dừng xe để kiểm tra. Nguyễn Thanh T không những không chấp hành hiệu lệnh dừng xe mà có biểu hiện bỏ chạy. Thấy vậy, anh Nguyễn Cư N dùng tay nắm khung nâng yên xe để giữ xe của Nguyễn Thanh T. Nguyễn Thanh T tăng ga xe bỏ chạy, làm anh Nhân té ngã và bị kéo lê trên đường một đoạn khoảng 17m thì xe mô tô cùng Nguyễn Thanh T và đồng chí Nguyễn Cư N ngã xuống đường. Anh Nguyễn Cư N bị thương tích nhẹ.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Cư N và lời khai của người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội: “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự.
Nguyễn Thanh T là công dân đã trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức vào điều khiển năng lực hành vi. Khi thấy các đồng chí mặc sắc phục cảnh sát giao thông, bị cáo ý thức được rằng đây là những người đang thi hành nhiệm vụ trên tuyến đường bộ, để đảm bảo an toàn giao thông và xử lý các trường hợp vi phạm luật giao thông đường bộ. Nhưng với ý thức chấp hành pháp luật kém, bị cáo không những không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của các đồng chí cảnh sát giao thông mà còn tăng ga xe bỏ chạy, gây cản trở người đang thi hành công vụ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về trật tự quản lý hành chính mà còn xâm phạm đến sức khỏe của người đang thi hành công vụ. Để răn đe, giáo dục bị cáo và cũng là bài học cho những ai có thái độ xem thường pháp luật, cần xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự, mức hình phạt phải tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Thanh T không chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Thanh T có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, nơi cư trú rõ ràng và khả năng tự cải tạo nên Hội đồng xét xử thấy không cần cách ly bị cáo Nguyễn Thanh T ra khỏi cuộc sống bình thường của xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Cư N bị thương nhẹ, có đơn từ chối giám định thương tích, không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thanh T bồi thường, nên miễn xét.
Về xử lý vật chứng:
- Xe mô tô biển kiểm soát 77E1-282.79, Cơ quan CSĐT Công an thị xã An Nhơn xử lý xong, nên miễn xét.
- 01 bộ quần áo Cảnh sát giao thông bị rách nhiều chỗ và dính nhiều bùn đất, là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của Nguyễn Thanh T, không còn giá trị sử dụng, nên áp dụng Điều 106 cảu Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội: “Chống người thi hành công vụ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, được tính trừ 06 (sáu) ngày tạm giữ (từ ngày 22/01/2021 đến ngày 28/01/2021), quy đổi thành 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo Nguyễn Thanh T còn phải thi hành 17 (mười bảy) tháng 12 (mười) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Nguyễn Thanh T cho UBND thị trấn N, huyện P, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Thanh T, do bị cáo không có thu nhập ổn định.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 bộ quần áo Cảnh sát giao thông bị rách nhiều chỗ và dính nhiều bùn đất.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000đ.
- Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Cư N vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
"Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND tỉnh Bình Định; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định; - VKSND thị xã An Nhơn; - Chi cục THADS thị xã An Nhơn; - Công an thị xã An Nhơn; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Văn Hà |