- Tranh chấp gì? án hình sự — "Moong Phò K phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và mức hình phạt:
- Căn cứ chính? Nghị định số 19/2018/NĐ-CP Quy định về việc tính tổng khối l…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2021/HSST Ngày 29 tháng 12 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Vi Thị Khuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Moong Văn Vũ;
Bà Thái Thị Ly.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng-Thư ký Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn-Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2021/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2021 đối với:
Bị cáo: Moong Văn K; tên gọi khác: Không; sinh ngày 22/4/1988, tại xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: bản L, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Khơ mú; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Moong Biên P và bà Xeo Thị M; có vợ là Chích Thị K và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/10/2021 đến nay; hiện đang tạm giam; Có mặt.
Người chứng kiến: Anh Vi Khăm H; sinh năm 1986; nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ, ngày 13/10/2021, Moong Văn K xin ngồi nhờ xe máy của một người đàn ông không quen biết đi từ bản L, xã C, huyện K đến bản C, xã L, huyện T, trên đường đi đến bản L, xã C, huyện K thì người đàn ông không quen biết dừng xe nghỉ chân tại một ngôi nhà hoang. Trong lúc ngồi nghỉ, K nhặt được 01 (Một) bao potylen màu trắng, sau khi mở ra xem K thấy bên trong có 01 (Một) gói chất màu trắng và 02 (Hai) viên nén màu hồng nên K gói lại như cũ rồi cầm trên tay để đưa về sử dụng. Sau đó, Moong Văn K nói với người đàn kia không đi đến bản C, xã L nữa rồi đi bộ quay về nhà, trên đường về K đã xin đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết. Khi đi đến bản L, K xuống xe đi bộ thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ số tang vật trên.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vào hồi 18 giờ, ngày 13/10/2021 đã xác định:
- Chất màu trắng (nghi là ma túy) thu giữ của Moong Văn K có khối lượng 0,1 gam (Không phẩy một); ký hiệu M1.
- Số viên nén màu hồng (nghi là ma túy) thu giữ của Moong Văn K có khối lượng 0,2 gam (Không phẩy hai); ký hiệu M2.
Kết luận giám định số 1412/KL-PC09(MT) ngày 20/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An đã kết luận:
- Mẫu chất màu trắng (ký hiệu M1) thu giữ của Moong Văn K gửi tới giám định là ma túy (Heroine).
- Mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu M2) thu giữ của Moong Văn K gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine).
Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Kỳ Sơn, Moong Văn K đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, mục đích tàng trữ số ma túy trên là để sử dụng.
Về vật chứng của vụ án: Số ma túy (Heroine) có khối lượng còn lại 0,05 gam (Không phẩy không năm) và số ma túy (Methamphetamine) có khối lượng còn lại 0,1 gam (Không phẩy một), cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu đã được CQĐT chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn bảo quản theo quy định.
Cáo trạng số: 125/CT-VKS-KS ngày 16/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn đã truy tố bị cáo Moong Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Moong Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Moong Văn K mức án từ 14 (Mười bốn) đến 18 (Mười tám) tháng tù; về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy (Heroine) có khối lượng còn lại 0,05 gam (Không phẩy không năm) và số ma túy (Methamphetamine) có khối lượng còn lại 0,1 gam (Không phẩy một), cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu; về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Moong Văn K đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên; Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định pháp luật.
[2] Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người chứng kiến. Do sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo Moong Văn K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 12 giờ, ngày 13/10/2021, tại bản L, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An, Moong Văn K đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,1 gam (Không phẩy một) ma túy (Heroine) và 0,2 gam (Không phẩy hai) ma túy (Methamphetamine) nhằm mục đích để sử dụng.
Căn cứ hướng dẫn tại Điều 4 Chương 2 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số Điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tổng khối lượng của hai chất ma tuý (Heroine, Methamphetamine) thu giữ của Moong Văn K là: 0,1 gam + 0,2 gam = 0,3 gam (Không phẩy ba). Trong trường hợp này tổng khối lượng của hai chất ma túy tương đương với khối lượng Heroine, Methamphetamine được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, nên hành vi đó của bị cáo Moong Văn K đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;
a)……………………………………………………….
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng của các chất đó tương đương với khối lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện. Khi phạm tội bị cáo cũng nhận thức được ma túy là chất gây nghiện bị Nhà nước cấm vì ma túy gây tác hại xấu đến đời sống kinh tế xã hội cũng như sức khỏe của con người và cũng làm mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật để tàng trữ trái phép làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy hành vi đó phải được xử lý nghiêm minh, cần tuyên phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới đủ điều kiện để vừa tiếp tục cải tạo, giáo dục riêng bị cáo vừa răn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Moong Văn K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên xét thấy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Trong vụ án này còn có 02 (Hai) người đàn ông đã cho Moong Văn K ngồi nhờ xe máy, quá trình điều tra không xác định được danh tính cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.
Về vật chứng vụ án: Số ma tuý (Heroine) là vật chứng còn lại có khối lượng 0,05 gam (Không phẩy không năm) và số ma tuý (Methamphetamine) là vật chứng còn lại có khối lượng 0,1 gam (Không phẩy một) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu, đây là vật Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ nên cần phải tịch thu, tiêu hủy.
Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và mức hình phạt:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Moong Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Moong Văn K 15 (Mười lăm) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 13/10/2021).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: Một phong bì thư bưu điện có viền xanh đỏ, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của Hội đồng tham gia niêm phong và ghi tên của bị cáo Moong Văn K, bên trong có chứa 0,05 gam (Không phẩy không năm) ma túy (Heroine) và 0,1 gam (Không phẩy một) ma túy (Methamphetamine) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu. (Vật chứng đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/11/2021 giữa Công an huyện Kỳ Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Moong Văn K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên bố: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/12/2021).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Kỳ Sơn; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An; - CQĐT Công an huyện Kỳ Sơn; - CQTHAHS huyện Kỳ Sơn; - CCTHADS huyện Kỳ Sơn; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, VP. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Moong Văn Vũ Thái Thị Ly | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vi Thị Khuyên THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vi Thị Khuyên |