vanban.org

Bản án 17/2021/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Hòa Bình Tuyên án 25/03/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/03/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa B nh.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: Trộm cắp tài sản. X phạt bị cáo Nguyễn Văn D 06 (sáu) tháng tù cho hư ng án treo, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08 10 2020 đến ngày 16 10 2020. Thời gian th thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ th m. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Dũng trộm cắp tài sản. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa B nh.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật H nh sự; Điều 173 Bộ luật H nh sự; Điều 173 Bộ luật H nh sự t
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2021/HS-PT
Ngày: 25-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Trường

Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Dụ

Bà Trần Thanh Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Thêu - Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Hường - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 25 tháng 3 năm 2021, tại trụ s Tòa án nhân dân tỉnh Hòa B nh t

phúc th m công khai vụ án h nh sự phúc th m thụ lý số 06/2021/TLPT-PT ngày 25/01/2021 đối với bị cáo Nguyễn Văn D do c kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa B nh đối với bản án h nh sự sơ th m số 73/2020 HS-ST ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.

Bị cáo bị kháng nghị:

Nguyễn Văn D, sinh ngày 07/6/1986 tại Hòa B nh.

Nơi cư trú: xóm T, ã Đ, huyện M, tỉnh Hòa B nh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tr nh độ học vấn: 12/12; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T; c vợ là: Trần Thị G, chưa c con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2017 bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội phạt 06 tháng tù cho hư ng án treo về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chấp hành ong các quyết định của bản án.

Bị cáo bị tạm giữ 08/10/2020 đến ngày 16/10/2020. Hiện đang tại ngoại c mặt tại phiên tòa.

Bị hại không kháng cáo và không bị kháng nghị:

Chị Trần Thị T, sinh năm 1974; trú tại: m S, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình.

(Bị hại không kháng cáo và không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 50 phút ngày 23 6 2020 Nguyễn Văn D đi e mô tô BKS 19N1-185.73 ch gà đi bán. Khi đi qua nhà chị Trần Thị T lợi dụng sự sơ h của chủ s hữu, Nguyễn Văn D đã trộm 01 điện thoại di động và một chiếc túi vải màu anh bên trong túi c 4.200.000 đồng với mục đích phục vụ chi tiêu cho cá nhân. Quá tr nh điều tra cơ quan điều tra điều tra không thu giữ được những vật chứng trên, Nguyễn Văn D ra đầu thú và bồi thường cho chị Trần Thị T 6.000.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 20 ngày 24 6 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Mai Châu, tỉnh Hòa B nh kết luận:

- Điện thoại di động nhãn hiệu VSMART JOY 3 màu trắng ngọc, phiên bản 2GB-32GB đã qua s dụng c giá trị là 2.180.000 đồng.

- 01túi vải màu anh, h nh chữ nhật kích thước 25 20cm, phía trước c miếng kim loại h nh tròn c chữ AUTIAN, loại dây đeo c nhiều ngăn và c kh a k o, đã qua s dụng c giá trị là 75.000 đồng. Tổng giá trị hai loại tài sản c giá trị 2.255.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là: 6.455.000 đồng.

Tại bản án số 73/2020/HS-ST ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa B nh đã t quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật H nh sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

X phạt bị cáo Nguyễn Văn D 06 tháng tù cho hư ng án treo, thời gian th thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ th m.

Ngoài ra bản án sơ th m còn quyết định về việc giao cơ quan quản lý giám sát bị cáo, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 04/01/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình ban hành Quyết định kháng nghị số 02 QĐ-VKSMC với nội dung: Kháng nghị phần quyết định h nh phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn D với lý do: Bị cáo là người c nhân thân ấu, năm 2017 đã bị phạt về tội Trộm cắp tài sản. Mặt khác bị cáo thường uyên vắng mặt tại địa phương, việc cho bị cáo được hư ng án treo là chưa tương ứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và không đủ tính răn đe. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hòa B nh t phúc th m theo hướng tuyên áp dụng h nh phạt tù đối với bị cáo, không cho bị cáo hư ng án treo.

Ngày 07 01 2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa B nh ban hành quyết định bổ sung Quyết định kháng nghị số 02 QĐ-VKSMC ngày 04 01 2021 với nội dung: Không cho bị cáo hư ng án treo và trừ thời gian tạm giữ (từ 08 10 2020 đến ngày 16 10 2020) vào thời hạn chấp hành h nh phạt tù của bị cáo Nguyễn Văn D.

Tại phiên tòa phúc th m, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa B nh giữ nguyên các quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa B nh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Trong quá tr nh kh i tố, điều tra, truy tố, t vụ án này các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ th m đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng h nh sự. Sau khi t sơ th m Viện kiểm sát kháng nghị trong thời hạn luật định nên được chấp nhận.

Về nội dung: Lợi dụng sơ h trong quản lý tài sản của chị Trần Thị T, bị cáo Nguyễn Văn D đã l n lút lấy trộm một chiếc điện thoại và một chiếc túi vải bên trong c 4.200.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 6.455.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ th m và phiên tòa phúc th m bị cáo Nguyễn Văn D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của m nh, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ c trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người c năng lực trách nhiệm h nh sự, c nhận thức, biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác một cách bất hợp pháp là vi phạm pháp luật, song v để c tiền chi tiêu cá nhân bị cáo vẫn cố t nh thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho ã hội, trực tiếp âm phạm đến quyền s hữu tài sản của người khác, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Tòa án cấp sơ th m đã áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật H nh sự t

bị cáo về tội Trộm cắp tài sản là c căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu về việc bị cáo là người c nhân thân ấu và thường uyên vắng mặt tại nơi cư trú nên không cho bị cáo hư ng án treo. Hội đồng t

t thấy: bị cáo phạm tội không c t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự. Đối với bản án năm 2017 đã được a án tích, việc cho bị cáo được hư ng án treo không trái với Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 5 2018 của HĐTP TANDTC; đối với kháng nghị bị cáo thường uyên vắng mặt tại nơi cư trú Hội đồng t thấy rằng: cho đến thời điểm t phúc th m bị cáo c nơi cư trú cụ thể rõ ràng, không c ý kiến hoặc văn bản nào chứng minh việc bị cáo thường uyên vắng mặt tại địa phương như kháng nghị của Viện kiểm sát và ngay trong quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu cũng đã đưa ra căn cứ bị cáo “c nơi cư trú rõ ràng”. Như vậy, không c căn cứ chấp nhận đối với phần kháng nghị này của Viện kiểm sát.

Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát về việc trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam cho bị cáo, HĐXX nhận thấy: Theo quy định tại Điều 38 BLHS th thời hạn tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành h nh phạt tù. Do vậy, Tòa án cấp sơ th m không trừ thời hạn tạm giữ vào thời gian chấp hành h nh phạt tù là thiếu s t, nên cần chấp nhận phần đề nghị này của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa B nh, s a một phần bản án sơ th m.

Các quyết định khác của bản án sơ th m không c kháng cáo, kháng nghị c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng h nh sự,

1. Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa B nh. S a một phần bản án h nh sự sơ th m số 73/2020/HS-ST ngày 23 12 2020 của Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa B nh. Cụ thể:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: Trộm cắp tài sản.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật H nh sự.

X phạt bị cáo Nguyễn Văn D 06 (sáu) tháng tù cho hư ng án treo, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08 10 2020 đến ngày 16 10 2020. Thời gian th thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ th m.

Giao bị cáo Nguyễn Văn D cho UBND xã Đ, huyện M, tỉnh Hòa Bình, nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí h nh sự phúc th m.

3. Các quyết định khác của bản án không c kháng cáo, kháng nghị c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc th m c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 25/3/2021.

Cỡ chữ