- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Minh T - Phạm Trung H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Minh T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂ THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2021/HS-ST Ngày 12 - 03 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hiền và ông Trần Minh Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Phạm Bích Hồng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 03 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 230/2020/TLST - HS ngày 02 tháng 12 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 230/2020/QĐXXST - HS ngày 29 tháng 12 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2021/HSST-QĐ ngày 11/01/2021 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 02/TB-TA ngày 29/01/2021, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Vũ Minh T1; 03/12/1988, tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: Tổ 3, khu 7B, phường Q, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Kim G và bà Phạm Thị N1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22/08/2005, bị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, ngày 01/5/2007 chấp hành xong; ngày 02/5/2008, bị công an thành phố Hạ Long xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “cố ý gây thương tích”, đã chấp hành xong; ngày 22/3/2010, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 năm tù về tội “Giết người”, ngày 17/3/2015 chấp hành xong bản án; bị cáo đầu thú và bị tạm giam từ ngày 28/7/2020 đến ngày 31/8/2020 được thay thế biện bằng biện pháp “Bảo lĩnh”; hiện tại ngoại tại nơi cư trú; có mặt.
2. Họ và tên: Phạm Trung H1; sinh ngày 27/8/1998, tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: Tổ 3, khu B, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H2 và bà Phạm Thị N2; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đầu thú ngày 10/9/2020, bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; hiện tại ngoại tại nơi cư trú; có mặt.
* Bị hại:
Anh Lò Văn O; sinh năm: 1997; nơi cư trú: Bản N3, xã N4, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu; vắng mặt.
* Những người làm chứng:
- Anh Lại Minh S1; sinh năm: 1988; nơi cư trú: Tổ 9, khu 5, phường Q, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
- Anh Dương Thanh V; sinh năm: 1987; nơi cư trú: Thôn M, xã Đ, huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
- Anh Vũ Mạnh T2; sinh năm: 1985; nơi cư trú: Tổ 6, khu 5, phường Q, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
- Anh Lò Văn M; sinh năm: 1998; nơi cư trú: Bản N3, xã N4, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu; vắng mặt.
- Anh Lò Văn S2; sinh năm: 1996; nơi cư trú: Bản N3, xã N4, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu; vắng mặt.
- Anh Lý Văn C; sinh năm: 2000; nơi cư trú: Thôn K, xã K, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Minh T1 và Phạm Trung H1 là bạn và cùng chơi với các anh Lại Minh S1, Dương Thanh V và cũng có quen biết với anh Vũ Mạnh T2. Tối ngày 26/7/2020, các anh: Lò Văn O (sinh năm 1997, trú tại: bản N3, xã N4, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu); Lò Văn M (sinh năm 1998, trú tại: bản N3, xã N4, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu); Lò Văn S2 (sinh năm 1996, trú tại: bản N3, xã N4, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu) và anh Lý Văn C (sinh năm 2000, trú tại: Thôn K, xã K, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng) có tổ chức ăn uống cùng nhau, khoảng 22 giờ cùng ngày thì cả nhóm rủ nhau đi hát Karaoke bằng xe mô tô theo hướng Hạ Long – Cẩm Phả, khi đến khu vực trước cửa nhà hàng Thu Thế trên Quốc lộ 18A, thuộc tổ 2, khu 6, phường Q, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, xe mô tô do anh M điều khiển chở anh O xảy ra va chạm giao thông với xe mô tô do anh Vũ Mạnh T2 (sinh năm 1985, trú tại: Tổ 6, khu 5, phường Q, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh) điều khiển làm cho anh M, anh O và anh T2 cùng bị ngã ra đường. Cùng lúc này, anh Lại Minh S1 (sinh năm 1988, trú tại: Tổ 9, khu 5, phường Q, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh) đi đến thấy anh T2 bị tai nạn nên dừng lại hỏi thăm và xảy ra cãi vã, xô xát với anh S2 là bạn, đi cùng nhóm anh O, thì được mọi người can ngăn. Sau đó anh S gọi điện thoại cho anh Dương Thanh V (là bạn của anh S1 và anh T2) báo cho biết việc anh T2 bị tai nạn ngã xe để đến đón anh T2 về. Lúc này, anh V đang ngồi chơi cùng với T1, H1 ở phòng trọ tại tổ 9, khu 5, phường Q, nên đã kể lại việc anh T2 bị tai nạn ngã xe và rủ nhau đi đón anh T2. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, anh V cùng T1 và H1 đi đến nơi anh T2 bị tai nạn thì thấy anh T2 bị thương chảy máu ở mặt, còn anh S đang cãi nhau với nhóm anh O. Thấy vậy, H1 cầm bộ dụng cụ đa năng đã mở sẵn lưỡi dao chạy đến quát hỏi “thằng nào đánh bạn tao” cùng lúc này T1 chạy theo ngay sau H1, vừa chạy vừa rút chiếc thắt lưng đang đeo ở cạp quần ra gấp lại làm đôi rồi cầm ở tay, còn anh V chạy theo sau cùng. Thấy nhóm T1 chạy đến, anh S2 và anh M đã kịp chạy đi khỏi đó. T1 chạy đến dùng chiếc thắt lưng đang cầm vụt một nhát phần có mặt kim loại của chiếc thắt lưng vào đầu anh O, khi bị đánh thì anh O đứng cúi người, hai tay dơ lên ôm đầu. T1 tiếp tục vụt thêm một nhát vào đầu anh O và một nhát vào lưng của anh O gây thương tích. Cùng lúc này, H1 cũng xông vào đấm đá anh O rồi H1 dùng lưỡi dao dài 5cm trong bộ dụng cụ đa năng đang cầm đâm 02 nhát vào mông bên phải anh O gây thương tích. Thấy anh O bị đánh, do sợ hãi nên anh C định bỏ chạy, T1 quay sang đấm đá anh C thì được anh S1 hô và can ngăn thì T1 không đánh anh C nữa. Ngay sau đó, T1, V, S1, H1 đưa anh T2 về còn anh O cũng được mọi người đưa đi cấp cứu, đến ngày 27/7/2020 thì sự việc được trình báo cơ quan Công an.
Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 34B2-762.28 của anh Lò Văn M để lại tại hiện trường; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7plus màu vàng gắn sim do Lại Thành S1 giao nộp; 01 thắt lưng da dài 110 cm, bản rộng 3,5 cm, phần mặt và đuôi dây lưng bằng kim loại do Vũ Minh T1 giao nộp; 01 dụng cụ đa năng bỏ túi bằng kim loại, bên trong có lưỡi dao dài 05cm, rộng 01 cm, chiều dài khi gấp gọn bộ dụng cụ là 7,5 cm, chiều dài khi mở ra là 12,5 cm do Phạm Trung H1 giao nộp.
Tại Giấy chứng nhận thương tích tạm thời ngày 28/7/2020, của Bệnh viên đa khoa Cẩm Phả, thể hiện: anh Lò Văn O có 01 vết thương vùng đỉnh chẩm phải dài 04cm,vỡ lún xương sọ; 01 vết thương vùng cùng cụt dài 03cm, sâu 02cm; 01 vết thương mông phải dài 7cm.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 416/20/TgT ngày 29/7/2020 và Bản kết luận giám định pháp y về thương tích bổ sung số 499/20/TgT ngày 01/9/2020 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Quảng Ninh, kết luận: Anh Lò Văn O bị thương tích tổn hại 24% sức khỏe (áp dụng quy tắc cộng theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y Tế). Vết thương đỉnh chẩm phải do vật tày cứng có cạnh gây nên. Hai vết thương vùng mông phải do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên. Chiếc thắt lưng có đặc điểm tính chất như Cơ quan điều tra mô tả hoàn toàn có thể gây thương tích vùng đỉnh chẩm phải cho anh Lò Văn O.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Vũ Minh T1 và Phạm Trung H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu ở trên. T1 và H1 khi nhận do thấy anh T2 bị thương chảy máu ở mặt và thấy anh S1 đang cãi nhau với nhóm anh O nên T1 và H1 tưởng anh T2 bị nhóm anh O đánh, do đó cả hai bị cáo đều tức giận xông vào đánh anh O gây thương tích chứ không có sự bàn bạc hoặc phân công gì trước đó. H1 khai bộ dụng cụ đa năng có lưỡi dao là của H1 thường mang theo bên người.
Anh Lò Văn O đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên tại giai đoạn điều tra, bị hại Lò Văn O có lời khai về toàn bộ quá trình xảy ra va chạm giao thông rồi hai bên xảy ra cãi vã sau đó T1 và H1 đi đến rồi T1 dùng thắt lưng vụt vào đầu và lưng còn H1 dùng dao đâm vào vùng mông gây thương tích cho anh O đúng như nội dung vụ án nêu trên, phù hợp với lời khai các bị cáo T1, H1 và những người làm chứng. Ngày 06 tháng 08 năm 2020, T1 và H1 đã bồi thường toàn bộ chi phí do sức khỏe bị xâm phạm, theo quy định của pháp luật cho anh Lò Văn O với tổng số tiền là 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng), anh O không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Những người làm chứng trong quá trình điều tra đều có lời khai về diễn biến, nội dung sự việc Thành và Hiếu đánh gây thương tích cho anh O đúng như nội dung vụ án đã nêu.
Tại bản Cáo trạng số 225/CT-VKSCP ngày 25 tháng 11 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị can Vũ Minh T1 và Phạm Trung H1, về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134) Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Minh T1 từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án (được trừ những ngày đã bị tạm giam, từ ngày 28/7/2020 đến ngày 31/8/2020).
- Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Trung H1 từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
- Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 thắt lưng da dài 110 cm, bản rộng 3,5c m, phần mặt và đuôi dây lưng bằng kim loại; 01 dụng cụ đa năng bỏ túi bằng kim loại, bên trong có lưỡi dao dài 05cm, rộng 01 cm, chiều dài khi gấp gọn bộ dụng cụ là 7,5 cm, chiều dài khi mở ra là 12,5 cm.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận bản cáo trạng truy tố về hành vi phạm tội là đúng người, đúng tội, không oan, không sai; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại và những người làm chứng; phù hợp với sơ đồ hiện trường, bản ảnh, vật chứng bị thu giữ, giấy chứng nhận thương tích, bản Kết luận giám định thương tích đối với bị hại cùng những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày ngày 26/7/2020, tại Quốc lộ 18A, thuộc tổ 2, khu 6, phường Q, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, do mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt giữa nhóm của bị hại với bạn của bị cáo, Vũ Minh T1 đã có hành vi dùng thắt lưng vụt vào đầu và lưng, còn Phạm Trung H1 đã có hành vi dùng dao đâm hai nhát vào phần mông bên phải của anh Lò Văn O gây thương tích, làm tổn hại 24% (hai mươi bốn phần trăm) sức khỏe. Hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện sự coi thường sức khỏe của người khác, có tính chất côn đồ. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, i khoản 1) Điều 134 Bộ luật hình sự là có cơ sở pháp luật.
Điều 134 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
...
i) Có tính chất côn đồ;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
...
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.”
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ do va chạm giao thông giữa nhóm bạn cùng đi với bị hại và bạn của bị cáo, khi thấy anh T2 đang bị thương và chảy máu còn anh S1 đang cãi nhau với nhóm của bị hại. Do bực tức nên T1 đã dùng thắt lưng da và H1 dùng dao đánh gây nên thương tích cho anh O. Các bị cáo là người trưởng thành, có đủ khả năng nhận thức nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, do vậy cần phải xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm giáo dục, răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét tính chất của đồng phạm và vai trò phạm tội của các bị cáo trong vụ án thấy: Các bị cáo cùng cố ý thực hiện một tội phạm, nhưng không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau từ trước mà chỉ nhất thời phạm tội nên là đồng phạm giản đơn. Khi thực hiện hành vi phạm tội, cả hai bị cáo cùng đồng thời dùng hung khí nguy hiểm đánh gây thương tích cho bị hại nên có vai trò ngang nhau trong vụ án.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy:
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo H1 sau khi có Quyết định truy nã đã ra đầu thú. Bị cáo T1 sau khi phạm tội cũng ra đầu thú, mẹ đẻ của bị cáo T1 là người có công với Cách mạng được Nhà nước tặng Huy chương còn bố đẻ của bị cáo có nhiều thành tích trong lao động và chiến đấu, được Nhà nước trao tặng Bằng khen nên hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước.
Về hình phạt: Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và việc phân hóa vai trò thực hiện tội phạm, Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo khi phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 (theo các điểm b, s) Điều 51 của bộ luật hình sự nên cần thiết cho các bị cáo được áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng để các bị cáo có điều kiện tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Tuy vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo có tính chất côn đồ, đối với bị cáo H1 sau khi phạm tội đã bỏ trốn và bị cơ quan điều tra ra Quyêt định truy nã. Vì vậy, dù có giảm nhẹ đến đâu cũng cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định không những để trừng trị mà còn cải tạo, giáo dục bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự (bồi thường thiệt hại):
Trong giai đoạn điều tra, các bị cáo đã bồi thường về thương tích cho bị hại tổng số tiền là 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng). Bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm hoặc có yêu cầu gì khác về tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
9] Trong vụ án này, bị cáo Vũ Minh T1 còn có hành vi dùng tay đánh anh Lý Văn C, nhưng không gây thương tích, anh C không có yêu cầu, đề nghị gì, Công an thành phố Cẩm Phả đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Vũ Minh T1 về hành này là phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng và các tài sản khác bị thu giữ trong vụ án: 01 thắt lưng da dài 110 cm, bản rộng 3,5c m, phần mặt và đuôi dây lưng bằng kim loại thu giữ của Vũ Minh T1; 01 dụng cụ đa năng bỏ túi bằng kim loại, bên trong có lưỡi dao dài 05cm, rộng 01 cm, chiều dài khi gấp gọn bộ dụng cụ là 7,5 cm, chiều dài khi mở ra là 12,5 cm thu giữ của Phạm Trung H1 là công cụ, phương tiện phạm tội nhưng không có giá trị cần tịch thu và tiêu hủy.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 34B2-762.28 của anh Lò Văn M và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7plus màu vàng gắn sim của anh Lại Thành S1, không liên quan đến vụ án, nên Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu nên không đề cập xử lý.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự); các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Vũ Minh T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Vũ Minh T1 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án (được trừ những ngày đã bị tạm giam, từ ngày 28/7/2020 đến ngày 31/8/2020).
2. Căn cứ vào: điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a,i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự); các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Phạm Trung H1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Phạm Trung H1 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
3. Căn cứ vào: Điều 121 và Điều 123 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” đối với bị cáo Vũ Minh T1; tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Phạm Trung H1 cho đến khi các bị cáo đi thi hành án.
4. Căn cứ vào: điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 01 thắt lưng da dài 110 cm, bản rộng 3,5c m, phần mặt và đuôi dây lưng bằng kim loại; 01 dụng cụ đa năng bỏ túi bằng kim loại, bên trong có lưỡi dao dài 05cm, rộng 01 cm, chiều dài khi gấp gọn bộ dụng cụ là 7,5 cm, chiều dài khi mở ra là 12,5 cm. Tình trạng như Biên bản giao vật chứng, tài sản số: 55A/BB-THA lập ngày 22/12/2020 giữa Công an thành phố Cẩm Phả và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
5. Căn cứ vào: khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
Buộc các bị cáo Vũ Minh T1 và Phạm Trung H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Căn cứ vào: Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại (vắng mặt) có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - Bị hại; - VKSND TP Cẩm Phả; - Cơ quan CSĐT Công an TP Cẩm Phả; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Cơ quan THAHS Công an TP Cẩm Phả; - Chi cục THADS. TP Cẩm Phả; - Lưu hồ sơ; Lưu TA./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quyền |