vanban.org

Bản án 17/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện U Minh, tỉnh Cà Mau Tuyên án 18/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lưu Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lưu Quốc T 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Lưu Quốc T phải chịu 200.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Quốc Toàn - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lưu Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2021/HS-ST
Ngày 18-6-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Hận

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Dư Thanh Hồng

Bà Đoàn Thảo Nhi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý, là Thư ký Toà án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Lê Vũ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện U Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:18/2021/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lưu Quốc T, sinh năm 1982; nơi sinh: xã Khánh Hòa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: ấp 7, xã Khánh Hòa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Hoàng Báo (đã chết) và bà Nguyễn Thị Hường (đã chết); bị cáo có vợ và 01 người con; tiền án: 01 tiền án về tội “Cướp tài sản”, “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”; ngày 16/01/2012 bị Tòa án nhân dân huyện U Minh tuyên phạt 09 năm tù giam. Đã chấp hành xong án phạt tù vào ngày 01/02/2018; Tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoại điều tra (bị cáo có mặt).

Bị hại: Anh Nguyễn Trần Nhật T, sinh năm 2003 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp 4, xã Khánh Lâm, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 01 giờ ngày 26/12/2020, Toàn nảy sinh ý định tìm gà để lấy trộm. Toàn điều khiển xe mang BKS: 69AF-007.95 từ nhà đến hướng chợ Khánh Hội, khi đến nhà nuôi gà của anh Nguyễn Trần Nhật T tại ấp 4, xã Khánh Lâm, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, Toàn vào nhà bắt 01 con gà, sau đó giấu trong áo sơ mi đang mặc và điều khiển xe về nhà. Khi đến cầu Khánh Lâm, Toàn bị Tổ tuần tra kiểm soát Công an huyện U Minh ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra thì phát hiện Toàn giấu 01 con gà nòi trống, lông màu trắng - vàng trong áo. Do đó, Tổ tuần tra mời Toàn về trụ sở Công an xã Khánh Lâm làm việc thì Toàn đã thừa nhận lấy trộm con gà trên tại nhà nuôi gà của anh Tiến. Công an xã Khánh Lâm đã lập biên bản vụ việc và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh điều tra Công an huyện U Minh để xử lý theo thẩm quyền. Trong quá trình xác minh thể hiện Toàn có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, “ Cướp giật tài sản” và “Cướp tài sản” chưa được xóa án tích.

Tại Bản kết luận định giá số 03/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện U Minh, kết luận: 01 (một) con gà nòi trống màu trắng – vàng, trọng lượng 2,7 kg tại thời điểm ngày 26/12/2020 trị giá 297.000 đồng.

Vật chứng của vụ án là 01 con gà nòi trống, lông màu trắng – vàng, trọng lượng 2,7 kg. Hiện nay đã trao trả lại cho bị hại Nguyễn Trần Nhật T.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Trần Nhật T đã nhận lại được tài sản mất trộm và đã nhận số tiền khắc phục hậu quả của bị cáo Toàn. Đồng thời, anh Tiến có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Toàn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện U Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lưu Quốc T từ 03 tháng đến 06 tháng tù.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định cho bị cáo, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi của bị cáo: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định vào khoảng 01 giờ ngày 26/12/2020, tại nhà của anh Nguyễn Trần Nhật T thuộc ấp 4, xã Khánh Lâm, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, bị cáo Lưu Quốc T đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp 01 con gà nòi trống, lông màu vàng – trắng, trọng lượng 2,7 kg, được định giá là 297.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo có 01 tiền tiền án chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh truy tố bị cáo Toàn về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b, khoản 1, Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, đồng thời gây mất an ninh trật tự ở địa phương, bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, chỉ vì ham lợi, lười lao động mà bị cáo bất chấp pháp luật thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, “Cướp giật tài sản” và “Cướp tài sản”. Do đó cần có mức án tương xứng với hành vi của bị cáo, để cải tạo bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo đã khắc phục hậu quả cho bị hại, cha ruột bị cáo có công với cách mạng, được tặng thưởng huân chương kháng chiến và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Các tình tiết giảm nhẹ trên được quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thây, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện để bị cáo hòa nhập cộng đồng, làm người công dân tốt, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt.

. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Do bị hại anh Tiến không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

. Về vật chứng: Do vật chứng đã trả lại cho bị hại anh Tiến nên không xem xét.

. Xét lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe mô tô mang BKS: 69AF-007.95 bị cáo Toàn sử dụng để đi trộm gà. Quá trình điều tra xác minh, chiếc xe này do anh Lưu Vũ Lil đứng tên chủ sở hữu. Sau đó anh Lil đã cho lại cha ruột là ông Lưu Văn Nguyên sử dụng. Vì thấy Toàn không phương tiện đi lại nên ông Nguyên đã cho Toàn mượn chiếc xe trên, ông Nguyên không biết Toàn sử dụng xe để đi trộm tài sản. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện U Minh, không tiến hành thu giữ và xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 173, điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố bị cáo Lưu Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lưu Quốc T 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

2. Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Lưu Quốc T phải chịu 200.000 đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại anh Nguyễn Trần Nhật T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ