- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2021/HS-ST Ngày: 08-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC - TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phản - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Phước Trí.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Xuân Hiền, bà Nguyễn Võ Phương Dung
Thư ký phiên toà: Bà Lâm Thị Hòa Yên – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Thuận Bắc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Duy Luân – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2021/TLST-HS ngày 09/11/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2021/QĐXXST-HS ngày 26/11/2021 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN T, sinh năm 1985 tại Ninh Thuận.
Nơi cư trú: Thôn L, xã B, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hoá: 2/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Cha: Nguyễn M (đã chết), Mẹ: Đặng Thị K – sinh năm 1955, Vợ: Dương Thị Tr – sinh năm 1990, Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2016.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 22/7/2019, bị Công an huyện Thuận Bắc xử phạt hình chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Công ty Cổ phần Điện mặt trời Tr.
Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận.
Người đại theo pháp luật: Ông Nguyễn Tâm Th – Chủ tịch hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Thành Tử Quý S, sinh năm 1990 (văn bản ủy quyền ngày 27/7/2021).
Nơi cư trú: thôn Ph, xã X, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần dịch vụ bảo vệ Thành A.
Địa chỉ: Khu A, phường Hòa Hiệp N, quận Liên Ch, Tp. Đà Nẵng.
Người đại theo pháp luật: Ông Phạm Bình Ph – Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn N, sinh năm 1966.
Nơi cư trú: thôn Tr, xã Tri H, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người làm chứng:
- Ông Lê Văn B, sinh năm 1975 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn M, xã B, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận.
- Ông Trần Ngọc L, sinh năm 1964 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn N, sinh năm 1967 (vắng mặt).
Cùng nơi cư trú: KP 1, phường Đ, TP. Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 26/7/2021, Nguyễn Văn T - sinh năm 1985 trú tại thôn L, xã B, huyện Thuận Bắc điều khiển xe mô tô biển số 85H1-116.03 đến khu đất trống gần trụ điện gió số 08 của Công ty Cổ phần điện mặt trời Tr (gọi tắt là Công ty Tr) thuộc thôn M, xã B, huyện Thuận Bắc để tìm cây mọc hoang về làm cây cảnh. T chạy xe mô tô đến và để tại chân cột điện gió rồi đi bộ tìm kiếm cây mọc hoang. Trong lúc tìm kiếm, T nhìn thấy có 03 sợi dây điện vỏ màu đen nằm trong ống nhựa màu cam và được lắp đặt trên hàng rào thép bao xung quanh khu vực làm pin năng lượng mặt trời của công ty Tr do Công ty cổ phần dịch vụ bảo vệ Thành A có trách nhiệm quản lý và bảo vệ nên nảy sinh cắt trộm dây điện. Biết dây điện chưa kết nối nguồn điện nên T dùng tay kéo 03 sợi dây điện cho đứt ra khỏi hộp điện nhưng không được, T đi đến mở cốp xe lấy 01 kìm tay rồi đến cắt 03 đầu sợi dây điện. Sau đó, T đi bộ dọc theo hàng rào thép (về hướng Tây Nam) đến hộp tiếp nối dây điện bên kia để cắt tiếp đầu dây, nhưng khi đến nơi thì thấy dây diện không kết nối với hộp điện nên T dùng tay kéo 03 sợi dây điện ra khỏi ống nhựa màu cam rồi dùng kìm cắt làm đôi và quấn lại thành 02 cuộn đem cất giấu vào bụi cây cách hàng rào thép bao xung quanh pin năng lượng về hướng Tây khoảng 25m. Sau đó, T đi tìm bao tải để đựng dây điện đem về nhà thì thấy có bảo vệ Công ty Tr đi tuần tra nên T chạy bộ đến nơi để xe mô tô rồi điều khiển xe bỏ chạy. Khi chạy ra đường Quốc lộ 1A thuộc thôn Ba Tháp, xã Bắc Phong, huyện Thuận Bắc thấy không có người truy đuổi. T điều khiển xe quay lại lấy dây điện, khi vào lại thì bị bảo vệ Công ty Tr nghi ngờ giữ lại và báo Công an xã. Tại Cơ quan điều tra, T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 11/KLĐGTS ngày 23/8/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thuận Bắc kết luận: Tài sản gồm 186,9m dây điện, trong đó: 127,2m dây điện có hàng chữ VIET THAI CABLE CXV 10mm2 Cu/XLPE /PVC 0.6/1KV IEC 60502-1-2020 V130420 giá trị 4.447.624 đồng; 59,7m dây điện có hàng chữ VIET THAI CABLE CXV 6mm2 Cu/XLPE /PVC 0.6/1KV IEC 60502-1-2019 Lc101219 giá trị 1.324.039 đồng.
Tổng giá trị tài sản mà T chiếm đoạt là 5.771.663 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKSTB, ngày 09/11/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách. Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu, tiêu huỷ 01 kìm tay dài 18,5cm, dày 1,3cm, cán được bao bằng nhựa màu đỏ đen, trên cán có hàng chữ MEANFAST của bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường nên không đề nghị xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Thuận Bắc, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại cơ quan điều tra, các chứng cứ khác được thu thập tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp nên có đủ cơ sở để xác định bị cáo đã thực hiện hành vi cụ thể như sau: Ngày 26/7/2021, Nguyễn Văn T đã lén lút trộm cắp 186,9m dây điện, giá trị 5.771.663 đồng tại khu vực làm pin năng lượng mặt trời của Công ty Cổ phần điện mặt trời Tr do Công ty cổ phần dịch vụ bảo vệ Thành A quản lý và bảo vệ thuộc thôn Mỹ Nhơn, xã Bắc Phong, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Do đó, cần xử lý nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ nhận thức về việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Mặc dù đã bị xử lý hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa bản thân mà còn tiếp tục phạm tội. Tuy nhiên, bị cáo gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét cho bị cáo. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, bị cáo có đủ các điều kiện xem xét cho hưởng án treo theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: “ Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo”. Nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đảm bảo mục đích trừng trị, giáo dục bị cáo và thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra người bị hại đã nhận lại đủ tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra vấn đề giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra đã tạm giữ, trả lại 186,9m dây điện cho Công ty Cổ phần điện mặt trời Tr; trả lại xe mô tô biển số 85H1-116.03 cho chị Dương Thị Tr (vợ bị cáo) do xe này không dùng vào việc phạm tội là có căn cứ. Hiện đang tiếp tục tạm giữ 01 kìm tay dài 18,5cm, dày 1,3cm, cán được bao bằng nhựa màu đỏ đen, trên cán có hàng chữ MEANFAST bị cáo dùng làm công cụ phạm tội, nên tịch thu tiêu hủy.
Xét quan điểm của Viện Kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo Tâm, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, quan điểm cho bị cáo được hưởng án treo, quan điểm về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là có căn cứ, đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố Tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 08/12/2021).
Giao Bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra người bị hại đã nhận lại đủ tài sản và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 kìm tay dài 18,5cm, dày 1,3cm, cán được bao bằng nhựa màu đỏ đen, trên cán có hàng chữ MEANFAST do bị cáo dùng làm công cụ phạm tội.
Vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Bắc theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện Thuận Bắc và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Bắc lập ngày 9/11/2021.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm, công khai có mặt Bị cáo, người bị hại, quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án (đã giải thích chế định án treo cho bị cáo).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND huyện Thuận Bắc; - Công an huyện Thuận Bắc; - Chi cục THADS huyện Thuận Bắc; - Hồ sơ THAHS; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Phước Trí |