- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đại dâm ô - phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (điều 146 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17 /2021 /HS-ST Ngày 23-3-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Lưu Văn Đê - Cán bộ nghỉ hưu;
2. Bà Nguyễn Thị Thúy Mùi - Giáo viên Trường THPT A Hải Hậu.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sinh - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Hải Hậu.
Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Én - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:13/2022/TLST- HS ngày 01 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1980 tại thị trấn Quỹ Nhất, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Tổ dân phố số 3, thị trấn TL, huyện HH, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1948, con bà Trần Thị Kh, sinh năm 1949; vợ là Lương Thị Hồng Nh, sinh năm 1988 và 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03-12-2021 đến ngày 12-12-2021 thì chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Nam Định. (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Trọng Thắng - Luật sư Công ty Luật TNHH Hà Việt thuộc đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. (có mặt).
- Bị hại: Cháu Trần Văn Kh, sinh ngày 22-4-2006; địa chỉ: Xóm 21, xã Trực Đ, huyện TN, tỉnh Nam Định. (vắng mặt).
- Người Đ diện hợp pháp cho người bị hại:
1.Chị Phạm Thị Nh, sinh năm 1974; địa chỉ: Xóm 21, xã Trực Đ, huyện TN, tỉnh Nam Định; (vắng mặt).
2. Chị Trần Thị Kh1, sinh năm 1996; địa chỉ: Xóm 21, xã Trực Đ, huyện TN, tỉnh Nam Định; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có kiến thức về tiếng Anh và có mối quan hệ thân thiết với anh Trần Văn K nên Nguyễn Văn Đ nhận dạy kèm tiếng Anh cho cháu Kh là con trai anh K. Cháu Kh đến nhà Đ học vào các buổi chiều thứ 7 và chủ nhật hằng tuần bắt đầu từ hoảng đầu tháng 02/2021. Quá trình dạy cháu Kh học, Đ đã 02 lần thực hiện hành vi dâm ô đối với cháu Kh cụ thể:
Vào một buổi trưa ngày chủ nhật giữa tháng 02/2021, sau khi uống bia cùng với bạn tại thị trấn TL, cháu Kh đến nhà Đ ở tổ dân phố số 3, thị trấn TL, huyện Hải Hậu để học Tiếng Anh. Trong lúc dạy cháu Kh học, Đ ngồi cạnh bên phải cùng chiều với cháu Kh, dùng tay phải sờ bên ngoài quần phần dương vật cháu Kh. Do đã uống bia nên cháu Kh xin phép đi ngủ, Đ đồng ý và bảo cháu Kh vào phòng ngủ phía sau để ngủ. Khoảng 5 phút sau, Đ vào phòng thấy cháu Kh đang nằm ngửa trên giường, Đ vào ngồi bên cạnh rồi dùng tay phải sờ bên ngoài quần phần dương vật cháu Kh kích thích làm dương vật cháu Kh cương cứng. Sau đó Đ ngồi xổm trên giường, dùng hai tay cởi quần dài, quần lót cháu Kh kéo xuống qua đầu gối. Tiếp đó Đ tự cởi quần mình ra, ngồi lên hai chân ngang phần đầu gối cháu Kh, dùng hai tay sờ, nắn, vuốt ve dương vật cháu Kh rồi cúi khom người, dùng miệng hôn, liếm dương vật cháu Kh khoảng 1 phút thì Đ ngậm dương vật cháu Kh đưa ra, đưa vào trong khoang miệng. Khoảng 2 phút sau thấy cháu Kh tỏ vẻ khó chịu, Đ dừng lại và dùng tay nắm hờ vuốt dương vật cháu Kh được khoảng 1 phút thì cháu Kh xuất tinh, chảy chất dịch nhầy màu trắng đục ra tay Đ. Toàn bộ quá trình dâm ô với cháu Kh được Đ ghi hình bằng chiếc điện thoại di động Iphone 7 màu trắng bạc. Sau khi thực hiện hành vi dâm ô, Đ tắt chế độ camera và cùng cháu Kh vào nhà vệ sinh rửa, mặc quần áo.
Khoảng 14 giờ ngày chủ nhật trong tháng 3/2021, cháu Kh đến nhà Đ để học, đến khoảng 16 giờ cùng ngày, sau khi học xong, Đ ngồi cạnh cháu Kh dùng tay phải sờ bên ngoài quần phần dương vật của cháu Kh để kích thích. Khi thấy dương vật của cháu Kh cương cứng, Đ bảo cháu Kh vào phòng ngủ phía sau. Hiểu ý của Đ muốn thực hiện hành vi dâm ô nên cháu Kh đồng ý và sang phòng ngủ nằm ngửa trên giường. Đ lên giường ngồi cạnh cháu Kh, dùng tay sờ kích thích dương vật phía ngoài quần cháu Kh. Sau đó, Đ ngồi xổm, dùng tay cởi quần dài, quần lót cháu Kh kéo xuống qua đầu gối và tự cởi quần của mình ra rồi dùng điện thoại di động Iphone 7 của mình để quay video lại quá trình dâm ô đối với cháu Kh. Đ ngồi lên hai chân ngang đầu gối cháu Kh, dùng hai tay sờ, nắn, vuốt ve dương vật cháu Kh để kích thích. Tiếp đó, Đ cúi khom người, dùng miệng hôn, liếm dương vật cháu Kh được khoảng 1 phút thì ngậm dương vật rồi đưa ra đưa vào trong khoang miệng. Khoảng 2 phút sau, thấy cháu Kh khó chịu, Đ dùng tay nắm hờ vuốt lên vuốt xuống dương vật cháu Kh, được khoảng 1 phút thì cháu Kh xuất tinh ra tay Đ. Sau đó, Đ tắt chế độ camera và cùng cháu Kh vào nhà vệ sinh rửa và mặc quần lại.
Khoảng tháng 5/2021, cháu Kh kể lại sự việc trên cho mẹ đẻ là bà Phạm Thị Nh và chị gái là Trần Thị Kh1 nghe. Biết sự việc bị phát hiện, Đ đến nhà bà Nhẫn xin lỗi cháu Kh và gia đình nên gia đình không làm đơn tố cáo hành vi của Đ. Đến đầu tháng 12/2021, video quay lại cảnh dâm ô giữa Đ và cháu Kh bị đăng tải lên mạng xã hội, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Nguyễn Văn Đ đã đến Cơ quan điều tra Hải Hậu đầu thú.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 01/22/TD ngày 18/01/2022 của trung tâm pháp y tỉnh Hà Nam kết luận: Trên cơ thể và bộ phận sinh dục ngoài của Nguyễn Văn Đ không thấy sây sát, rách da, bầm tụ máu do ngoại lực. Năng lực tình dục bình thường.
Cáo trạng số 13/CT-VKSHH ngày 01 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi" theo điểm b khoản 2 Điều 146 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu trên và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
- Đ diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu giữ quyền công tố luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 146; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự; đề nghị tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03-12-2021 và đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Phần tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên, bị cáo, người Đ diện hợp pháp của bị hại, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về căn cứ buộc tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người Đ diện hợp pháp của bị hạicùng các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng giữa tháng 2 và tháng 3 năm 2021, tại nhà ở của Nguyễn Văn Đ ở tổ dân phố số 3, thị trấn TL, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, Đ đã 2 lần có hành vi dùng tay vuốt ve, dùng miệng hôn, liếm, ngậm dương vật của cháu Kh để kích thích tình dục khi cháu Kh mới 14 tuổi 9 tháng 23 ngày. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 146 Bộ Luật hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội; đã trực tiếp xâm phạm sự phát triển bình thường cả về mặt thể chất và tâm sinh lý của người dưới 16 tuổi; xâm phạm về danh dự và cả về nhân phẩm của trẻ em được pháp luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm trừng trị răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; trong vụ án bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại nên bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51. Sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú, bố đẻ bị cáo được chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen vì đã có thành tích tham gia kháng chiến chống mỹ cứu nước, bị hại và Đ diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: Xét cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn; cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, do bị cáo phạm tội lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên căn cứ Điều 54 Bộ luật Hình sự, áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu tại phiên toà hôm nay là phù hợp thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và Đ diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm về mặt dân sự nên về trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu trắng bạc, số IMEI: 359184076232882. Xét đây là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người Đ diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 146, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự.
1.1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi.
1.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03-12-2021.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu trắng bạc, số IMEI: 359184076232882.
Vật chứng nêu trên được mô tả như Biên bản bàn giao nhận vật chứng ngày 22/03/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a Điều 23 Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Toà án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người Đ diện hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện Hải Hậu; - Chi cục THADS huyện Hải Hậu; - UBND TT TL; - Những người tham gia tố tụng khác; - Hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |