vanban.org

Bản án 17/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lô Thị H là cho chị H được ly hôn anh Vi Văn Thủy.

Về nuôi con chung: giao cho chị Lô Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Vi Văn T – sinh ngày 04 tháng 6 năm 2007. Đến lúc cháu Vi Văn T thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản riêng tự nuôi mình. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lô Thị H - Vi Văn Th"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lô Thị H là cho chị H được ly hôn anh Vi Văn Thủy.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA ĐÀN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2021/HNGĐ - ST
Ngày 30/6/2021
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Lê Viết Hà .

Các Hội thẩm nhân dân: 1. ÔngNguyễn Quốc Tú

2. Ông Nguyễn Bá Thảo

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thanh- cán bộ Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Đào Giang Lệ - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn,tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 41/2021/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2021 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2021/QĐXXST –HNGĐ, ngày 15 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Lô Thị H, sinh năm 1979 (có mặt) Địa chỉ: xóm Hòa Th - xã Nghĩa L - huyện Nghĩa Đ- tỉnh Nghệ An.

- Bị đơn: anh Vi Văn Th, sinh năm 1976 (có mặt) Địa chỉ: xóm Hòa Th - xã Nghĩa L - huyện Nghĩa Đ- tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn, tạibản khai và tại phiên toà hôm nay nguyên đơn chị Lô Thị Hoạt trình bày:

Về quan hệ tình cảm: chi Lô Thị H và anh Vi Văn Th có đăng ký kết hôn vào ngày 04 tháng 11 năm 2002, tại ủy ban nhân dân xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Thời gian đầu vợ, chồng sống hạnh phúc, sau đó thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là anh Vi Văn Th hay gây gổ và đánh đập chị H do cuộc sống gia đình mâu thuẫn căng thẳngchị Hoạt đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở huyện Như X, tỉnh Thanh Hóa sống ly thân từ tháng 8 năm 2020 cho đến nay mỗi người mỗi nơi không còn gặp gỡ và cùng chung nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Nay chị thấy không còn tình cảm với chồng là anh Vi Văn Th và yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với chồng là anh Vi Văn Th

Về quan hệ nuôi con chung: chị Lô Thị H và anh Vi Văn Th có 02 con chung là cháu Vi Văn Q – sinh ngày 04 tháng 6 năm 2003 và cháu Vi Văn T – sinh ngày 04 tháng 6 năm 2007. Nay ly hôn thì chị có nguyện vọng nuôi cháu Vi Văn T và không yêu cầu anh Vi Văn Th cấp dưỡng nuôi con. Còn cháu Vi Văn Q đã trưởng thành nên cháu muốn ở với ai thì tùy cháu quyết định.

Về quan hệ tài sản: chị Lô Thị H tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Vi Văn Th trình bày:

Về quan hệ tình cảm: anh Vi Văn Th kết hôn với chị Lô Thị H vào ngày 04 tháng 11 năm 2002, tại ủy ban nhân dân xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do anh có đánh đập chị Hoạt, nhưng anh vẫn mong muốn vợ, chồng quay về đoàn tụ.

Về quan hệ nuôi con chung: anh Vi Văn Th vàchị Lô Thị H có 02 con chung là cháu Vi Văn Q – sinh ngày 04 tháng 6 năm 2003 và cháu Vi Văn T– sinh ngày 04 tháng 6 năm 2007. Nay ly hôn thì anh có nguyện vọng là để các con muốn ở với ai thì để các con tự quyết định.

Về quan hệ tài sản: Anh Vi Văn Th tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã làm đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ các quy định của pháp luật, đúng thời gian và trình tự thu thập chứng cứ của đương sự. Đối với các đương sự đã chấp hành theo quy định của pháp luật.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu của chị Lô Thị H là cho chị Lô Thị H được ly hôn với anh Vi Văn Th. Về con cái giao cháu Vi Văn T, sinh ngày 04 tháng 6 năm 2007 cho chị Lô Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Vi Văn Th do chị Lô Thị H không có yêu cầu. Về tài sản, chị Lô Thị H và anh Vi Văn Th tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí, buộc chị Lô Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Lô Thị H và anh Vi Văn Thlà hôn nhân tự nguyện và hợp pháp có đăng ký kết hôn vào ngày 04 tháng 11 năm 2002, tại ủy ban nhân dân xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Theo đơn khởi kiện, bản khai của chị Lô Thị H và anh Vi Văn Th, cũng như xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An thì nguyên nhân là dovợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, anh Vi Văn Th hay chửi bới và có hành vi đánh đập chị Lô Thị H làm cho cuộc sống gia đình ngày càng căng thẳng nên chị H đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở huyện Như X, tỉnh Thanh H sống ly thân với anh Vi Văn Th từ tháng 8 năm 2020 cho tới nay, không còn quan tâm đến nhau và không có ý thức xây dựng cuộc sống gia đình. Mâu thuẫn như vậy là trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặc dù anh Th có đưa ra yêu cầu xin được đoàn tụ nhưng không có giải pháp gì khắc phục mâu thuẫn gia đình. Do đó cần chấp nhận yêu cầu của chị Lô Thị Hlà cho chị Lô Thị H được ly hôn anh Vi Văn Th. Bác yêu cầu xin được đoàn tụ của anh Vi Văn Th.

Về nuôi con chung:anh Vi Văn Th vàchị Lô Thị H có 02 con chung là cháu Vi Văn Q – sinh ngày 04 tháng 6 năm 2003 và cháu Vi Văn T – sinh ngày 04 tháng 6 năm 2007. Theo đơn trình bày nguyện vọng của cháu Vi Văn T thì cháu có nguyện vọng ở với mẹ, chị Lô Thị H cũng có nguyện vọng được nuôi cháu Vi Văn T và không yêu cầu anh Vi Văn Th cấp dưỡng nuôi con, anh Vi Văn Th có nguyện vọng là con ở với ai thì để con tự quyết định Xét thấy cháu Vi Văn T có nguyện vọng ở với mẹ và chị Lô Thị H cũng có nguyện vọng nuôi cháu Vi Văn T xét nguyện vọng của các bên là tự nguyện và hoàn toàn phù hợp quy định pháp luật. Do vậy cần giao cháu Vi Văn T cho chị Lô Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Vi Văn Th do chị Lô Thị H không yêu cầu. Còn cháu Vi Văn Q đã trưởng thành nên muốn ở với ai thì tùy cháu quyết định do vậy hội đồng xét xử không xem xét.

Về chia tài sản chung: chị Lô Thị H và anh Vi Văn Th tự thỏa

thuậnkhông yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: buộc các đương sự phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, các Điều 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 điều 51, điều 56, điều 58; điều 81; điều 82; điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án xử:

1.Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lô Thị H là cho chị H được ly hôn anh Vi Văn Thủy. Bác yêu cầu đoàn tụ của anh Vi Văn Th.

2. Về nuôi con chung: giao cho chị Lô Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Vi Văn T – sinh ngày 04 tháng 6 năm 2007. Đến lúc cháu Vi Văn T thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản riêng tự nuôi mình. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Vi Văn Th do chị Lô Thị H không có yêu cầu.

AnhVi Văn Thcó quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật thì có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3.Về tài sản: chị Lô Thị H và anh Vi Văn Th không yêu cầu nên không xem xét.

4. Về án phí: chị Lô Thị Hphải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Lô Thị H đã nộp đủ số tiền trên theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007243 ngày 04 tháng 3 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơnvà bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ