vanban.org

Bản án 17/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Đ về việc ly hôn.

Về con chung: Giao cháu Ngô Thị Minh C, sinh ngày 30/6/2018 cho chị Nguyễn Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Đ về việc ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ ĐĂNG
TỈNH BÌNH PHƢỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2021/HNGĐ - ST
Ngày: 22-4-2021
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƢỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Đào

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quang Liêu

2. Ông Nguyễn Mạnh Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Chang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Tâm – Kiểm sát viên

Trong ngày 22 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 514/2020/TLST- HNGĐ, ngày 30 tháng 11 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2021/QĐXX - ST ngày 18 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1995

2. Bị đơn: Anh Ngô Quang Đ, sinh năm 1994

Cùng địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước. (Đều có mặt)

NỘI DUNG VỤÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Ngô Quang Đ tự nguyện tìm hiểu cùng chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước vào ngày 22/12/2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống và kinh tế nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, anh Đ hay đi nhậu về chửi bới chị Đ và đập phá đồ đạc trong nhà. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Đ và anh Đ đã không sống chung với nhau từ đầu năm 2020 cho tới nay. Nay chị Đ yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Đ để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị Đ và anh Đ có 01 người con chung là cháu Ngô Thị Minh C, sinh ngày 30/6/2018, sau khi ly hôn chị Đ có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu C cho đến khi cháu thành niên và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Ngô Quang Đ trình bày:

Anh Đ thống nhất với lời trình bày chị Đ về thời gian chung sống và đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc tuy nhiên do sau này do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên xảy ra cãi vã dẫn tới việc chị Đ đã bỏ nhà đi từ tháng 5/2020 cho đến nay. Anh Đ có thường xuyên gọi điện và tới nơi chị Đ sinh sống để xin lỗi, đón chị Đ về nhà nhưng chị Đ vẫn cương quyết không về. Hiện nay mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng, anh Đ còn thương chị Đ nên mong muốn đoàn tụ gia đình để cùng chăm sóc con cái.

Về con chung: Anh Đ thống nhất như chị Đ trình bày, anh Đ và chị Đ có 01 người con chung là cháu Ngô Thị Minh C, sinh ngày 30/6/2018. Nếu chị Đ cương quyết muốn ly hôn thì sau khi ly hôn anh Đ có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu C cho đến khi cháu trưởng thành, không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C có quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng theo đúng quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Đ; về con chung: Giao cháu Ngô Thị Minh C, sinh ngày 30/6/2018 cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi; về vấn đề cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét; về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

Về án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Phần thủ tục tố tụng:

Theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Đ yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Ngô Quang Đ. Hiện nay bị đơn đang cư trú tại xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước. Hội đồng xét xử thấy tranh chấp giữa nguyên đơn và bđơn thuộc lĩnh vực hôn nhân gia đình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện C.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Ngô Quang Đ tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước. Điều này phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn số 106 ngày 22/12/2015 đã được chị Đ cung cấp. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Đ và anh Đ là hợp pháp.

Về mâu thuẫn gia đình: Theo lời trình bày của chị Đ thì quá trình chung sống vợ chồng có bất đồng về quan điểm sống và kinh tế nên thường xuyên cãi vã, anh Đ thường xuyên đi nhậu về chửi bới, đập phá đồ đạc. Tuy nhiên, anh Đ xác định trong thời gian chung sống vợ chồng chỉ phát sinh mâu thuẫn nhỏ chưa tới mức trầm trọng nên anh Đ mong muốn đoàn tụ với chị Đ, không đồng ý ly hôn với chị Đ. Xét thấy, mặc dù theo biên bản xác minh tình trạng mâu thuẫn hôn nhân giữa anh Đ và chị Đ tại địa phương thể hiện nội dung địa phương không biết tình trạng mâu thuẫn của anh Đ và chị Đ nhưng chính anh Đ thừa nhận giữa anh Đ và chị Đ có mâu thuẫn và đã không chung sống với nhau từ tháng 5 năm 2020 cho đến nay, anh Đ đã nhiều lần đón chị Đ về để đoàn tụ nhưng chị Đ không đồng ý. Tại phiên tòa chị Đ xác định không còn tình cảm với anh Đ nên không thể tiếp tục sống chung với nhau. Như vậy tình trạng hôn nhân giữa chị Đ và anh Đ là trầm trọng, cuộc sống hôn nhân thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận nguyện vọng muốn ly hôn của chị Đ.

Về con chung: Chị Đ và anh Đ có 01 người con chung là cháu Ngô Thị Minh C, sinh ngày 30/6/2018. Quá trình giải quyết vụ án, anh Đ và chị Đ đểu có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu C cho đến khi cháu thành niên. Xét thấy cả chị Đ và anh Đ đều có công việc và thu nhâp ổn định đảm bảo điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu C, nhưng hiện nay cháu C còn nhỏ (dưới 36 tháng tuổi), rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Hơn nữa theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị Đ, giao cháu C cho chị Đ chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi.

Về vấn đề cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung : Chị Đ và anh Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Chị Đ và anh Đ xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/ 2016/ UBTVQH16 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016, buộc nguyên đơn chị Đ phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/ 2016/ UBTVQH16 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Đ về việc ly hôn. Chị Đ được ly hôn với anh Ngô Quang Đ.

2. Về con chung: Giao cháu Ngô Thị Minh C, sinh ngày 30/6/2018 cho chị Nguyễn Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom, cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về tài sản chung : Chị Đ và anh Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về nợ chung: Chị Đ và anh Đ xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

6. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà đã nộp trước là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 015855 ngày 01/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Bình Phước.

7. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ