vanban.org

Bản án 17/2021/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 28/12/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 11, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Luật thi hành án dân sự. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam - Nguyễn Huy H"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 11, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 179/2021/DS-ST
Ngày: 28 - 12 - 2021
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Quốc Dũng

2. Bà Lê Thị Thanh Vân.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo, là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Không.

Ngày 28 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 189/2021/TLST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 417/2021/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 11 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 422/2021/QĐST-DS ngày 09 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam.

Trụ sở: 169 phố Linh Đường, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Dương Quyết Thắng – Tổng Giám Đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tô Văn Hoảnh – Phó Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh An Giang (Văn bản ủy quyền số 7300/QĐ - NHCS ngày 19/9/2019 và số 155/QĐ - NHCS ngày 22/3/2021).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Huy Hoàng, sinh năm 1974.

Địa chỉ: Số 4/47 khóm Thới Hòa, phường Mỹ Thạnh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thái Sơn, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Số 4/47 khóm Thới Hòa, phường Mỹ Thạnh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

(Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Tô Văn Hoảnh có đơn xin vắng mặt; ông Nguyễn Huy Hoàng và ông Nguyễn Thái Sơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án đại diện nguyên đơn trình bày:

Ngày 01/12/2011 Ngân hàng chính sách xã hội chi nhánh An Giang (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và ông Nguyễn Huy Hoàng đã ký kết hợp đồng số 5700110506 ngày 01/12/2011 cho vay số tiền 30.000.000đ, mục đích vay hỗ trợ học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đối với sinh viên Nguyễn Thái Sơn (con ông Hoàng). Lãi suất cho vay là 0,65%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn (0,845%/ tháng), thời gian vay là 84 tháng, hạn trả nợ cuối cùng là 11/12/2018. Quá thời gian trả nợ ông Hoàng vẫn chưa thanh toán nợ lãi và nợ gốc cho ngân hàng nên hợp đồng được gia hạn trả nợ đến ngày 10/5/2019.

Ngày 10/5/2019 hợp đồng vay của ông Hoàng chuyển nợ quá hạn. Tính đến ngày 28/12/2021, ông Hoàng chỉ thanh toán lãi cho ngân hàng số tiền 8.319.392 đồng, vốn vay hiện nay chưa trả.

Nay Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Huy Hoàng và ông Nguyễn Thái Sơn cùng có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng số tiền 44.593.758 đồng. Trong đó vốn vay là 30.000.000đ, lãi trong hạn từ ngày 01/12/2011 đến ngày 10/5/2019 là 6.465.100 đồng (lãi trong hạn 14.784.250 đồng – lãi đã trả 8.319.392 đồng), lãi quá hạn từ ngày 11/5/2019 đến ngày 28/12/2021 là 8.128.900 đồng. Yêu cầu tiếp tục tính lãi quá hạn phát sinh theo hợp đồng số 5700110506 từ ngày 29/12/2021 đến khi thanh toán xong nợ gốc.

* Bị đơn ông Nguyễn Huy Hoàng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thái Sơn đã ký nhận trực tiếp các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng đến nay vẫn không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

* Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Tô Văn Hoảnh có đơn yêu cầu được vắng mặt.

Bị đơn ông Nguyễn Huy Hoàng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thái Sơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thành phố Long Xuyên theo khoản 3 Điều 26, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Nguyễn Huy Hoàng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thái Sơn đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 4/47 khóm Thới Hòa, phường Mỹ Thạnh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền của Tòa án theo điểm a khoản 3 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.3] Sau khi nhận được quyết định hoãn phiên tòa, ông Tô Văn Hoảnh là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam có đơn nộp cho Tòa án với nội dung đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Huy Hoàng và ông Nguyễn Thái Sơn theo qui định tại Điều 177 và Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân Sự. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông Hoàng và ông Sơn.

Về nội dung tranh chấp:

Ngày 01/12/2011 Ngân hàng chính sách xã hội chi nhánh An Giang (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và ông Nguyễn Huy Hoàng đã ký kết hợp đồng số 5700110506 cho vay số tiền 30.000.000đ, mục đích vay hỗ trợ học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đối với sinh viên Nguyễn Thái Sơn (con ông Hoàng). Lãi suất cho vay là 0,65%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn (0,845%/ tháng), thời gian vay là 84 tháng, hạn trả nợ cuối cùng là 11/12/2018. Quá thời gian trả nợ ông Hoàng vẫn chưa thanh toán nợ lãi và nợ gốc cho ngân hàng nên hợp đồng được gia hạn trả nợ đến ngày 10/5/2019. Ngày 10/5/2019 hợp đồng vay của ông Hoàng chuyển nợ quá hạn. Tính đến ngày 28/12/2021, ông Hoàng chỉ thanh toán lãi cho ngân hàng số tiền 8.319.392 đồng, vốn vay hiện nay chưa trả. Nay Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Huy Hoàng và ông Nguyễn Thái Sơn cùng có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng số tiền 44.593.758 đồng. Yêu cầu tiếp tục tính lãi quá hạn phát sinh theo hợp đồng số 5700110506 từ ngày 29/12/2021 đến khi thanh toán xong nợ gốc.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng tín dụng số 5700110506 ngày 01/12/2011 thể hiện dưới hình thức văn bản, dựa trên sự tự nguyện, tự thỏa thuận giữa bên cho vay là NHCSXH Việt Nam – chi nhánh tỉnh An Giang và bên vay là ông Nguyễn Huy Hoàng, người kế thừa nghĩa vụ trả nợ vay là ông Nguyễn Thái Sơn. Hợp đồng tín dụng đã thể hiện rõ về mức cho vay, phương thức cho vay, thời hạn cho vay, lãi suất cho vay, trả nợ gốc và lãi vốn vay, quyền và nghĩa vụ của bên cho vay; bên vay… đúng theo quy đinh tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; do bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Huy Hoàng và ông Nguyễn Thái Sơn vi phạm hợp đồng nên yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Nguyễn Huy Hoàng và ông Nguyễn Thái Sơn cùng có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng số tiền vốn vay là 30.000.000đ là có cơ sở chấp nhận.

Về yêu cầu tính lãi: Do ông Hoàng và ông Sơn không trả vốn, lãi là đã vi phạm nghĩa vụ của bên vay và gây thiệt hại cho Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam do đó yêu cầu của nguyên đơn về tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng là phù hợp nên được chấp nhận. Ông Hoàng và ông Sơn phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam số tiền lãi 14.593.758 đồng (lãi trong hạn từ ngày 01/12/2011 đến ngày 10/5/2019 là 6.465.100 đồng, lãi quá hạn từ ngày 11/5/2019 đến ngày 28/12/2021 là 8.128.900 đồng).

Ông Nguyễn Huy Hoàng và ông Nguyễn Thái Sơn phải trả cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (Ngân hàng Chính sách xã hội - Chi nhánh An Giang đại diện nhận) số tiền 44.593.758 đồng (Bốn mươi bốn triệu năm trăm chín mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi tám đồng).

Từ ngày 29/12/2021, bị đơn ông Nguyễn Huy Hoàng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thái Sơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng số 5700110506 ngày 01/12/2011 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam thuộc đối tượng không phải nộp án phí theo điểm c khoản 1 Điều 11 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị đơn Nguyễn Huy Hoàng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thái Sơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 262, khoản 1 Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015;

Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

Điểm c khoản 1 Điều 11, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam.

Buộc ông Nguyễn Huy Hoàng và ông Nguyễn Thái Sơn cùng có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (Ngân hàng Chính sách xã hội - Chi nhánh An Giang đại diện nhận) số tiền 44.593.758 đồng (Bốn mươi bốn triệu năm trăm chín mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi tám đồng). Trong đó vốn 30.000.000 đồng, lãi tạm tính đến ngày 28/12/2021 là 14.593.758 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 29/12/2021) bị đơn ông Nguyễn Huy Hoàng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thái Sơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Án phí:

2.1 Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam thuộc đối tượng không phải nộp án phí theo điểm c khoản 1 Điều 11 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

2.2 Bị đơn Nguyễn Huy Hoàng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thái Sơn liên đới nộp số tiền 2.230.000đ (Hai triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại chính quyền địa phương nơi cư trú.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ