vanban.org

Bản án 17/2021/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điều: 471 Bộ luật Dân sự 2015

Áp dụng: Điều 17 Nghị Định 144/NĐ- CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường. Điểm đ khoản 1 Điều 12; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng góp hụi giữa bà D với ông T"
  • Tòa quyết gì? Điều: 471 Bộ luật Dân sự 2015
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2021/DS-ST
Ngày: 18/3/2021
“V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi"

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Vinh

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/. Ông: Nguyễn Văn Ngƣ

2/. Ông: Lâm Ngọc Hà

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Lƣu Thị Thúy Vy Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Cao Trƣơng Minh Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2021tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 35/2020/TLST-DS, ngày 20 tháng 4 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2021/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 3 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2021/QĐST- DS ngày 11/3/2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Dƣơng Thị D, sinh năm 1977(Có mặt)

Địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

2. Bị đơn: Ông Lữ T, sinh năm 1959 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liê quan: Ông Lữ Tuấn K, sinh năm 1988 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 03 năm 2020; biên bản lấy lời khai ngày 22/7/2020; cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Dương Thị D trình bày:

Vào ngày 09/6/2013, bà D có tham gia 02 dây hụi, do bà Phan Thị Kim D và ông Lữ T làm chủ hụi (bà D chết) năm 2017.

Dây hụi thứ nhất: Mở ngày 09/6/2013, có 24 phần, mỗi phần: 1.000.000đ (Một triệu đồng), bà tham gia 01 phần, chưa hốt, đóng được 23 lần là: 19.030.000đ vốn đóng, còn vốn cộng lãi 23.000.000đ.

Dây hụi thứ hai: Mở ngày 09/6/2013, có 24 phần, mỗi phần: 1.000.000đ (Một triệu đồng), bà tham gia 01 phần, chưa hốt, đóng được 23 lần là:

-1-

19.350.000đ vốn đóng, còn vốn cộng lãi 23.000.000đ; tổng cộng vốn đóng: 38.380.000đ, còn vốn cộng lãi 46.000.000đ.

Lúc bà D còn sống, thì bà D và ông Lữ T có trả dần được 17.400.000đ, còn nợ lại 28.600.000đ, sau đó bà gửi đơn lên ấp hòa giải, thì ông Lữ T hứa trả 3.000.000đ mỗi vụ thu hoạch lúa cho đến khi dứt nợ, nhưng chỉ trả được 2.000.000 đồng.

Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lữ T trả số tiền hụi 28.600.000đ.

Tại biên bản lấy lời ngày 20/11/2020, bị đơn ông Lữ T trình bày: Bà D là vợ ông chết ngày 6/5/2017 (âm lịch), ông và bà D có 02 người con chung: Lữ Tuấn K, sinh năm 1988; Lữ Tuấn A, sinh năm 1990 (chết năm 2014).

Lúc bà D còn sống, có thừa nhận thiếu tiền hụi bà D 28.600.000đ, khi bà D chết ông không có khả năng trả.

Nay bà D yêu cầu của Tòa án giải quyết buộc ông T trả số tiền hụi 28.600.000đ, ông không có khả năng trả.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Ông Lữ T, ông Lữ Tuấn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa, nhưng ông Lữ T, ông Lữ Tuấn K đều vắng mặt, nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các ông.

Về nội dung: Bà Dương Thị D yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lữ T trả số tiền hụi: 28.600.000đ (Hai mươi tám triệu sáu trăm ngàn đồng).

Tại phiên tòa hôm nay, bà D cho rằng, bà có tham gia 02 dây hụi do bà D và ông T làm chủ hụi, 02 dây hụi mở ngày 09/6/2013, mỗi dây có 24 phần, mỗi phần: 1.000.000đ (Một triệu đồng), bà đã đóng hụi sống của 02 phần hụi, của 02 dây là 46 lần chưa hốt, thực đóng là 38.380.000đ, còn vốn cộng lãi 46.000.000đ, lúc bà D còn sống trả dần được 17.400.000đ, còn lại 28.600.000đ, sau đó ông Lữ T trả được 2 triệu đồng, còn nợ lại 26.600.000đ; tại phiên tòa hôm nay, bà D yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T trả số tiền nợ hụi 26.600.000đ; rút lại một phần yêu cầu đối số tiền 2.000.000đ.

Hội đồng xét xử thấy bà D kiện yêu cầu ông Lữ T trả tiền hụi 28.600.000đ, tại phiên tòa hôm nay bà D xin rút lại một phần yêu cầu đối với số tiền 2.000.000đ là hoàn toàn tự nguyện, nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; đình chỉ một phần yêu cầu của bà D đối với số tiền 2.000.000đ.

Còn lại số tiền hụi 26.600.000đ, theo lời khai của bà D, thì bà D là chủ hụi, ông Lữ T là đi thu tiền hụi, hiện nay bà D chết nên bà D kiện ông T trả số tiền hụi 26.600.000đ. Qua biên bản lấy lời khai của ông T ngày 20/11/2020, thì ông thừa nhận bà D là vợ ông làm chủ hụi, ông là người đi thu tiền hụi giùm vợ (bà D), nay bà D đã chết; ông Tài thừa nhận số nợ hụi bà D nợ bà D 26.600.000đ, nhưng ông T không có khả năng trả.

-2-

Xét thấy bà D (đã chết), nên tòa án có đưa ông T và ông K tham gia tố tụng với tư cách người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố của bà D. Nhưng qua thu thập chứng cứ lời khai của ông T cho biết bà D (đã chết ngày 6/5/2017), như vậy bà D chết trước khi bà D khởi kiện, mặc khác tại phiên tòa hôm nay, bà D xác định chỉ kiện ông T, nên Hội đồng xét xử xác định ông T là bị đơn và ông K là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, không phải là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố của bà D; nên buộc ông Lữ T có nghĩa vụ trả tiền hụi do bà D 26.600.000đ là có cơ sở. Còn đối với ông K là con (bà D và ông T) bà D không có yêu cầu phải trả số tiền hụi của bà D nợ và cũng không có chứng nào cho thấy ông K liên quan đến việc tham gia hụi cùng bà D với ông T, nên Hội xét xử không thể buộc ông K cùng trả số tiền trên với ông T.

Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên cho rằng HĐXX đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án, đảm bảo về thủ tục bắt đầu phiên tòa, tranh tụng tại phiên tòa theo quy định BLTTDS năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị D buộc bị đơn ông Lữ T trả cho nguyên đơn bà Dương Thị D số tiền hụi: 26.600.000đ (Hai mươi sáu triệu sáu trăm ngàn đồng); Đình chỉ một phần yêu cầu của bà Dương Thị D đối với số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng).

Lời đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Từ những nhận định, phân tích trên, Hội đồng xét xử, xét thấy yêu cầu của bà Dương Thị D là có cơ sở chấp nhận một phần. Do đó áp dụng Điều Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015, buộc ông Lữ T phải có nghĩa vụ trả số tiền hụi: 26.600.000đ (Hai mươi sáu triệu sáu trăm ngàn đồng) là có căn cứ.

Đình chỉ một phần yêu cầu của bà Dương Thị D đối với số tiền 2.000.000đ.

Về án phí: Ông Lữ T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 1.330.000đ của số tiền (26.600.000đ x 5% = 1.330.000đ), nhưng ông Lữ T thuộc đối tượng là người cao tuổi (hiện nay trên 60 tuổi), nên Hội đồng xét xử quyết định cho ông Lữ T được miễn nộp toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Bà Dương Thị D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Khoản 1 Điều 147; Khoản 1 Điều 273; Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều: 471 Bộ luật Dân sự 2015

- Áp dụng: Điều 17 Nghị Định 144/NĐ- CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường.

-3-

- Điểm đ khoản 1 Điều 12; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Dương Thị D kiện ông Lữ T về việc "Tranh chấp hợp đồng góp hụi".

Buộc ông Lữ T phải có nghĩa vụ trả cho bà Dương Thị D số tiền hụi là: 26.600.000đ (Hai mươi sáu triệu sáu trăm ngàn đồng)

Đình chỉ một phần yêu cầu của bà Dương Thị D đối với số tiền 2.000.000đ.

Về án phí: Ông Lữ T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 1.330.000đ của số tiền (26.600.000đ x 5% = 1.330.000đ), nhưng ông Lữ T thuộc đối tượng là người cao tuổi (hiện nay trên 60 tuổi), nên Hội đồng xét xử quyết định cho ông Lữ T được miễn nộp toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Bà Dương Thị D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho bà Dương Thị D số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là: 715.000đ (Bảy trăm mười lăm ngàn đồng) theo biên lai số: 0001304 ngày 05/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bà Dương Thị D có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng ông Lữ T còn phải trả lãi cho bà Dương Thị D theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sư năm 2015, đối với số tiền chậm thi hành án.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ