vanban.org

Bản án 17/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Xu; Buộc vợ chồng bà Đinh Thị B, ông Đỗ Trọng Đ phải trả cho bà Bùi Thị X, ông Lê Văn K 4,8 chỉ vàng 9999 (gốc 4 chỉ vàng, lãi 08 phân vàng).

Về án phí: Bà Đinh Thị B và ông Đỗ Trọng Đ phải nộp 1.276.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Bà Bùi Thị X được hoàn lại số tiền 600.000đ đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0001969 ngày 20/01/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Xử chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Xu; Buộc vợ chồng bà Đinh Thị B, ông Đỗ Trọng Đ phải trả cho bà Bùi Thị X, ông Lê Văn K 4,8 chỉ vàng 9999 (gốc 4 chỉ vàng, lãi 08 phân vàng).
  • Căn cứ chính? Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN TRƯỜNG
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:17/2021/DS - ST
Ngày: 16- 4 - 2021
V/v: Tranh chấp Họ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Hùng;

2. Bà Nguyễn Thị Liễu.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Kim Cúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên toà: Bà Khổng Thị Tươi - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 05/2021/TLST – DS, ngày 20 tháng 01 năm 2021 về “Tranh chấp Họ” theo Thông báo xét xử vụ án số 06/2021/QĐST - DS ngày 05/4/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị X, sinh năm 1965; địa chỉ: Xóm H, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định;

- Bị đơn: Bà Đinh Thị B, sinh năm 1957; địa chỉ: Xóm Đ, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lê Văn K, sinh năm 1966; địa chỉ: Xóm H, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.

2. Ông Đỗ Trọng Đ; sinh năm 1957; địa chỉ: Xóm Đ, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.

- Người làm chứng:

1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1974; địa chỉ: Xóm H, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.

2. Bà Phạm Thị M, sinh năm 1940; địa chỉ: Xóm H, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.

3. Bà Lê Thị B, sinh năm 1966; địa chỉ: Xóm H, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.

4. Ông Mai Ngọc L, sinh năm 1966; địa chỉ: Xóm H, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.

5. Bà Mai Thị P, sinh năm 1969; địa chỉ: Xóm H, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa có mặt bà Bùi Thị X, bà Đinh B, ông Lê Văn K, ông Đỗ Trọng Đ; bà Nguyễn Thị L, bà Lê Thị B, ông Mai Ngọc L, bà Mai Thị P; bà Phạm Thị M có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn bà Bùi Thị X trình bày:

Bà và bà Đinh Thị B là người cùng xã, để hỗ trợ kinh tế cho nhau ngày 25/6/2013 bà con khu xóm H, xã Xuân N có dựng nên phường vàng do bà làm chủ phường. Phường này có 10 người tham gia thành 16 xuất, lúc đầu tiên chỉ có 14 xuất, khi họp hội phường là có đủ 14 xuất nhưng sau đó bà B đề nghị với bà cho bà B tham gia chơi 02 xuất phường, 01 xuất lấy tên là B, 01 xuất lấy tên là Đỗ Thị N là con gái bà B nhưng thực chất đều do một mình bà B đóng góp và rút phường nhưng bà B lại yêu cầu rút trước, bà đã sắp xếp để bà B được rút thứ 4 và thứ 5. Hình thức tham gia góp phường mỗi một năm góp hai lần, lần thứ nhất vào ngày 25/6 âm lịch, lần thứ hai vào ngày 25/11 âm lịch của năm, mỗi một xuất góp 01 chỉ vàng 9999, ai lấy trước phải góp lãi cho người lấy sau 02 phân vàng, tổng là 1,2 chỉ vàng. Còn ai đang tham gia mà bỏ dở thì phải lấy sau cùng. Bà là người rút xuất đầu tiên, người rút thứ hai là K, thứ ba là P còn bà Bê (Đ là người rút thứ 4 vào ngày 25/11/2014 (âm lịch) được 14 chỉ 6 phân vàng 9999 đã trừ 2 xuất của mình ra (nếu không trừ thì bà B rút tổng số vàng là 16 chỉ 6 phân vàng). Tiếp đến ngày 25/6/2015 (âm lịch) bà B là người rút thứ năm được 14 chỉ 6 phân vàng đã trừ hai xuất của bà Bra. Sau khi bà B rút xuất thứ 4 và thứ 5, bà B còn phải góp từ xuất thứ 6 cho đến xuất 16 là 11 người, như vậy mỗi lần bà Bê góp là 2 chỉ gốc và 04 phân vàng lãi. Tổng bà B còn phải góp 26 chỉ 4 phân vàng cho những người chơi chưa rút, phường vàng này không phải bốc thăm mà nhường cho nhau, ai có nhu cầu cần lấy trước thì ưu tiên. Sau khi bà Đinh Thị B rút và góp tiếp được đến xuất thứ 14 thì không đóng nữa còn xuất thứ 15 và xuất thứ 16 bà Bê không góp, bà B cho rằng bà đã góp hết rồi không còn liên quan nữa, phường vàng đã kết thúc vào ngày 25/11/2020 (âm lịch). Theo quy định của phường khi các thành viên trong phường đến xuất của mình được rút, sau khi rút đều có ký nhận vào sổ, trong đó bà B đã ký nhận vào sổ theo dõi các thành viên rút phường. Trong đó đã thể hiện rút xuất thứ 4 trong sổ theo dõi của bà và ký nhận còn xuất thứ 5 bà Bê ký nhận ở sổ của bà B. Khi rút phường bà là chủ phường vàng và các thành viên tham gia phường là người trực tiếp giao số vàng gốc và lãi cho bà để bà trả người được rút. Khi bà B không góp 2 xuất còn lại bà đã xuống tận nhà để đòi cũng như một số thành viên trong phường cũng xuống nhà yêu cầu bà B phải góp 2 xuất còn lại nhưng bà B cố tình không góp phường nữa và cho rằng phường vàng này đã chơi xong kết thúc từ xuất thứ 14 nên không còn liên quan gì nữa. Bà có bảo bà B góp vàng cho bà thì phải có sổ bà ký nhận nhưng ở đây không đưa vàng cho. Theo quy định của phường, chủ phường mà không lấy được vàng của các thành viên đã rút để đóng cho những người chưa rút thì trách nhiệm thuộc chủ phường. Do vậy, xuất của bà Nguyễn Thị L và bà Phạm Thị M (Th) bà mới giao cho mỗi người là 15,6 chỉ vàng cả gốc và lãi (ngày 25/01/2021 dương lịch) bà mới giao cho bà M (tức Th) mà chị Trần Thị H là con dâu đã nhận thay số vàng gốc và lãi 15,6 chỉ vàng 9999 còn nợ lại của hai người, mỗi người là 2,4 chỉ vàng cả gốc và lãi. Do bà B chưa nộp cho bà nên bà chưa trả cho bà L và bà M (tứcTh) được. Khi bà thu vàng của các thành viên để trả cho người được rút, người được rút trả công cho bà là 400.000đ, trong đó bà L, bà Th chưa trả cho bà cũng như bà chưa thanh toán số vàng gốc và lãi còn lại của hai bà này, bà đề nghị Tòa án không xem xét điều chỉnh, bà và bà Li bà Th tự thỏa thuận giải quyết với nhau và số vàng và số tiền công này. Khi đòi bà B nhiều lần không trả nên bà đã đề nghị UBND xã Xu và Công an xã X giải quyết nhưng bà B cố tình không trả. Nay bà yêu cầu vợ chồng bà Đinh Thị B và Đỗ Trọng Đ có trách nhiệm trả số vàng gốc 4 chỉ và lãi 08 phân (4,8 chỉ vàng 9999) để vợ chồng bà có trách nhiệm trả cho bà Liễu và bà Thận. Ngoài tham gia phường vàng do bà làm chủ như bà đã trình bày thì gia đình bà B không tham gia một xuất phường vàng nào nữa do bà làm chủ. Mặc dù Tòa án đã giải thích về lãi vàng theo quy định của pháp luật, bà mong Tòa án xem xét cho bà vì hoàn cảnh kinh tế gia đình bà hiện nay rất khó khăn.

- Theo biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Đinh Thị B trình bày: Để hỗ trợ kinh tế cho nhau bà con khu xóm có dựng nên phường vàng do bà Bùi Thị X làm chủ phường. Bà chỉ tham gia một dây phường vàng do bà Xuyến làm chủ. Phường vàng này có 16 người tham gia, bà ( B) tham gia 2 xuất phường vàng, trong đó 01 xuất lấy tên bà, còn một xuất lấy tên Đỗ Thị N con gái bà nhưng thực chất đều do bà đóng góp và rút phường. Ngày 24/11/2011 khi họp phường bà X không báo bà và bà cũng không được ký biên bản tham gia phường vàng. Bà tham gia phường vàng của bà X từ ngày 25/11/2011 chứ không phải là ngày 25/6/2013 như bà X trình bày là bắt đầu chơi phường – ngày 25/6/2013 bà rút phường là người rút thứ 4 được 14 chỉ 6 phân vàng. Hình thức tham gia góp phường một năm góp hai lần, mỗi lần góp 01 chỉ vàng 9999, ai lấy rồi góp cho người chưa lấy là 2 phân vàng, tổng là 1,2 chỉ vàng, lần thứ nhất góp ngày 25/11/2011 và tiếp theo là ngày 25/6/2012 cứ như vậy cho các năm tiếp theo. Bà là người thứ 4 rút vào ngày 25/6/2013 được tổng là 14,6 chỉ vàng cả gốc và lãi trong đó trừ hai xuất của nhà ra nếu không trừ là tính cả 16 xuất, số vàng rút được 14,6 chỉ vàng này bà đem trả nợ hết cho chị Đỗ Thị H, sinh năm 1963; ở Xã H, huyện H (địa chỉ cụ thể bà không nhớ) và trả cho bà Phạm Thị T ở xóm Đ, xã X. 03 suất đầu ba góp phường là bà lấy vàng của vợ chồng bà để góp. Đến ngày 25/11/2013 bà là người thứ năm rút được 14,6 chỉ vàng đã trừ hai xuất của nhà ra - Số vàng bà rút được dùng cho gia đình để trả nợ cho cháu con anh trai Đỗ Văn H, Phạm Thị H (đều đã chết) nhờ vay hộ, để vợ chồng anh H lo công việc cháu Đỗ Văn C, hiện đang ở Đắc Lắc.

Sau khi rút phường bà tiếp tục đóng góp cho các thành viên khác chưa được rút cho đến khi kết thúc phường. Trừ 2 xuất của mình ra bà đã góp đủ cho 14 xuất, những lần bà góp phường đều đưa vàng trực tiếp cho bà Xuyến nhưng không có sổ ký nhận của bà X với bà. Xuất cuối ngày 25/11/2019 chứ không phải là ngày 25/11/2020 như bà X trình bày, bà có nói với bà X là bà góp thừa 1 xuất là 17 xuất. Sau khi bà không góp bà X xuống gia đình gọi chồng đe dọa đánh bà. Bà có đưa sổ ghi các thành viên tham gia phường là 16 người, bà X không nhận là chữ mình viết, không nhận sổ của mình ký nhận. Khi bà mang sổ của những thành viên tham gia phường từ năm 2013 bảo là chữ của bà X, bà bảo là không vào những người này nên bà không nhận. Sau đó bà X lên nhà bà rất nhiều lần chửi bới, bà nói là cứ tìm bằng đấy người đã góp cho bà thì bà mới góp cho, trong đó phường mà bà tham gia, bà bảo là phường này phải viết đủ 16 người trong năm đó, năm 2011 là đủ 16 người, bà chỉ có vào 1 dây 2 xuất chứ không kéo dây khác. Do dây bà tham gia ông P đã góp đủ rồi cũng như bà Thúy đã tham gia góp đủ rồi nên bà không góp nữa.

Tòa án đã cho bà xem hai giấy ghi là bà đã nhận phường của 16 người vào xuất thứ tư ngày 15/11/2014 và xuất thứ năm vào ngày 25/6/2015, giấy này do bà X viết ra không phải chữ của bà, bà không có ký nhận nên bà không thừa nhận, bà không đề nghị Tòa án đi giám định chữa viết ở hai tờ giấy này, như bà trình bày ở trên là xuất thứ tư bà rút ngày 25/6/2013 được tổng là 14,6 chỉ vàng cả gốc và lãi, vào ngày 25/11/2013 bà là người thứ năm rút được 14,6 chỉ vàng cả gốc và lãi, đã trừ 2 xuất của mình ra là 14 xuất.

Tòa án đã cho bà xem danh sách các thành viên tham gia phường ngày 25/6/2013, bà thừa nhận danh sách những người tham gia phường này là đúng nhưng ở đây chỗ T H là người tham gia 2 xuất chứ không phải là 1 xuất, cũng như H T tham gia 2 xuất trong đó ghi 1 xuất là không đúng.

Khi công an xã X báo bà lên làm việc, bà đã trình bày sự việc như bà trình bày với Tòa án. Bà cầm sổ ghi chép 16 người tham gia phường để cho ông T là công an xã xem, ông T đòi chụp danh sách tham gia phường nhưng bà không nhất trí cho chụp, bà đề nghị công an xã là để chủ phường và bà gặp nhau đối chất nhưng ông T không cho gặp. Quyển sổ này bà đã đốt đi vì đã chơi xong rồi không còn liên quan gì nữa Tòa án yêu cầu bà nộp nhưng hiện không còn nên không nộp cho Tòa án được. Sau khi không giải quyết được thì bà Xuyến đã làm đơn khởi kiện bà ra Tòa án.

Ngoài 01 dây phường mà bà tham gia đã trình bày ở trên thì bà không tham gia dây phường nào của bà X nữa. Bà là người quản lý kinh tế trong gia đình, mọi chi tiêu, sinh hoạt trong gia đình đều do bà quyết định, việc bà tham gia phường vàng bà không bàn bạc với chồng bà là ông Đỗ Trọng Đ.

Tại phiên hòa giải ngày 02/3/2021 bà trình bày quyển sổ ghi chép tham gia phường vàng bà còn giữ, Tòa án đã ấn định cho bà trong thời gian 3 ngày kể từ ngày 02/3/2021 bà phải nộp cho Tòa án quyển sổ này nhưng ngày 16/3/2021 Tòa án làm việc với bà, bà không xuất trình nộp sổ ghi chép chơi phường cho Tòa án với lý do bà tham gia phường từ tháng 11 năm 2011 nên đã chơi xong rồi không còn liên quan đến phường của bà X nữa và không có bằng chứng bà tham gia phường từ năm 2013.

Nay bà X yêu cầu vợ chồng bà phải trả số vàng gốc 4 chỉ và 08 phân vàng lãi; tổng là 4,8 chỉ vàng 9999, vợ chồng bà không nhất trí trả vì bà đã góp đủ 14 xuất phường trừ 2 xuất của mình ra cho bà X rồi nên bà không còn liên quan nữa. Đối với xuất góp thừa 1 xuất cho bà X bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

- Ông Lê Văn K trình bày: Ông là chồng của bà Bùi Thị X, ông nhất trí với lời trình bày của bà X, yêu cầu vợ chồng bà Đinh Thị B, ông Đỗ Trọng Đ có trách nhiệm trả số vàng đó để vợ chồng ông có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị L và bà Phạm Thị M.

- Ông Đỗ Trọng Đ trình bày: Ông là chồng của bà Đinh Thị , bà B trình bày là đúng, vợ ông tham gia phường vàng như thế nào thì ông không biết, bà B không bàn bạc với ông. Vợ ông là người quản lý kinh tế trong gia đình và quyết định chi tiêu sinh hoạt trong gia đình, không bao giờ ông hỏi chi tiêu như thế nào nên việc góp phường như thế nào do bà B tham gia quyết định cũng như bà B rút 2 xuất phường vàng dùng vào việc gì ông cũng không lắm được. Ngày 25/6/2020 vợ chồng ông bà Xxuống nhà ông chửi bới xúc phạm về việc vợ ông không góp 2 xuất phường vàng cho bà X, vợ ông nói đã góp đủ rồi không còn liên quan nữa, vì vậy hai bên to tiếng với nhau. Ông có bảo vợ chồng bà X, việc bà Bê tham gia phường vàng của bà X như thế nào thì ông không biết, việc này là của hai người. Ông nói với bà X là khi rút phường và góp phường hai bên phải ký nhận sổ với nhau, nếu có bà X đưa sổ ra để ông xem mà hai bên cứ to tiếng với nhau, sau đó một hồi thì vợ chồng bà X ra về. Ông khẳng định số vàng mà bà B vợ ông mang góp cho bà X là vàng của vợ chồng ông tích góp, sau đó bà B rút phường vàng dùng vào việc gì trong gia đình thì ông không lắm được, ông không được biết.

Nay bà X khởi kiện vợ chồng ông yêu cầu vợ chồng phải trả 4,8 chỉ vàng ông không nhất trí, ông không liên quan đến việc này đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để xem xét giải quyết.

- Người làm chứng:

+ Bà Nguyễn Thị L trình bày: Để hỗ trợ kinh tế cho nhau ngày 25/6/2013 bà con khu xóm H có dựng nên phường vàng do bà Bùi Thị Xu làm chủ phường. Phường này có 16 người tham gia gồm: Bà Bùi Thị X, bà Mai Thị D, bà Phạm Thị H, bà Mai Thị P, ông Phạm Quang T, bà Lê Thị B, bà Phạm Thị M, ông Mai Ngọc L, bà Mai Thị T, bà Mai Thị T, bà Mai Thị X, ông Mai Văn D, bà Đinh Thị B, bà Đỗ Thị N. Chúng tôi đều ở địa chỉ xóm Ho, xã X, trừ bà D là ở xóm T, xã X và bà B ở xóm Đ, xã X. Trong danh sách nhà bà B tham gia 2 xuất, một xuất mang tên bà B, 1 xuất mang tên Đỗ Thị Ng con gái bà nhưng thực chất xuất của bà B là người tham gia đóng góp phường chứ chị N không bao giờ đến tham gia góp phường. Hôm họp phường có một số người không đến để họp phường nhưng đều có danh sách tham gia, hôm đó do gia đình bà bận công việc không đến dự được mà chỉ đăng ký tên tham gia phường vàng. Hình thức tham gia góp phường mỗi một năm góp hai lần, lần thứ nhất vào ngày 25/6 âm lịch, lần thứ hai vào ngày 25/11 âm lịch trong năm, mỗi một xuất góp là 01 chỉ vàng 9999, ai lấy trước thì phải góp lãi cho người lấy sau là 02 phân vàng, như vậy là 1,2 chỉ vàng. Còn ai đang tham gia mà bỏ dở thì lấy sau cùng. Theo lịch góp có lúc bà X là người trực tiếp đến nhà các thành viên tham gia phường để lấy, có lúc các thành viên tham gia phường mang đến tận nhà bà X để nộp. Khi nộp vàng cho bà X là chủ phường, người nộp phường và bà X là chủ phường đều có sổ ký nhận của hai bên để tránh sự việc xảy ra người nộp rồi bảo chưa nộp làm như vậy là chặt chẽ (góp bằng vàng); ai lấy phường thì trả công cho bà X là 400.000đ. Trong đó bà Đinh Thị B là người thứ 4 rút vào ngày 25/11/2014 được 14 chỉ 6 phân vàng 9999 đã trừ 2 xuất của mình ra (nếu không trừ thì bà B rút tổng số vàng là 16 chỉ 6 phân vàng). Tiếp đến ngày 25/6/2015 bà Bê là người rút thứ năm được 14 chỉ 6 phân vàng đã trừ hai xuất của bà B ra, nếu bà B góp xuất của mình vào phường thì gốc là 16 chỉ và 8 phân vàng lãi. Sau khi bà B rút xuất 4 và thứ 5, bà Bê còn phải góp từ xuất thứ 6 cho đến xuất 16 còn là 11 người, như vậy mỗi lần bà B góp là 2 chỉ gốc và 04 phân vàng lãi. Tổng bà B còn phải góp 26 chỉ 4 phân cho những người chưa rút. Sau đó bà B đã góp đều nhưng đến xuất thứ 15 và xuất thứ 16 bà Bê không góp nữa, bà B cho rằng đã góp hết rồi không còn liên quan nữa.

Bà là người thứ 15 ngày 25/6/2020 rút được 15,4 chỉ vàng (trong đó gốc 13 chỉ, lãi là 2,4 chỉ). Sau khi biết bà Bê không góp 2 xuất vàng gốc và lãi cho chủ phường là bà X, bà đã đến tận nhà của bà B để nói chuyện, bà B bảo bà không đưa vàng là xuất của bà để góp cho bà B, bà bảo bà B xuất của bà đưa cho chủ phường là bà X, bà X có trách nhiệm nhận và ghi vào sổ của bà, còn bà X có trách nhiệm giao xuất đó cho bà B. Theo quy định là các thành viên tham gia góp phường đều nộp cho chủ phường sau đó chủ phường có trách nhiệm giao lại cho thành viên phường đến lượt mình được rút. Danh sách các thành viên trong phường ai cũng giữ một bản để theo dõi. Sau khi bà nói như thế bà Bê cố tình không trả số vàng 2 chỉ 4 phân vàng. Tương tự như bà Th () trong danh sách ghi tên là Phạm Thị M là người thứ 16 rút cuối cùng được 15,6 chỉ vàng, còn hai xuất của bà B cũng không lấy được.

Hiện nay bà còn 2,4 chỉ vàng chưa lấy được do bà B chưa góp cho chủ phường là bà X, để bà X có trách nhiệm trả cho bà. Theo quy định chủ phường phải có trách nhiệm trả cho các thành viên trong phường nếu thành viên trong phường chưa góp cũng như bà chưa trả tiền công 400.000đ cho bà Xuyến Tuy nhiên giữa bà và bà X tự giải quyết với nhau, bà đề nghị Tòa án không xem xét trong vụ án này. Nay bà X khởi kiện bà Đinh Thị B ra Tòa án đề nghị Tòa án xem xét theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho bà X.

+ Bà Lê Thị B trình bày: Bà nhất trí như ý kiến của bà X và bà L cũng như người làm chứng khác đã trình bày. Bà có tham gia phường vàng do bà Xuyến làm chủ có 16 xuất tham gia, bà là người rút thứ 10, bà rút được 16.8 chỉ vàng. Như lời bà trình bày tham gia phường từ ngày 25/11/2011 là không chính xác như vậy thì phường vàng này lại thừa ra mấy xuất. Tất cả những người chơi dây phường vàng do bà X làm chủ đều thừa nhận dây phường vàng kết thúc là ngày 25/11/2020, chỉ có một mình bà Blà trình bày khác. Nay bà Xuyến khởi kiện bà Đinh Thị ra Tòa án, bà đề nghị Tòa án xem xét theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho bà X.

+ Ông Mai Ngọc L trình bày: Ông nhất trí với lời trình bày của bà X cũng như lời trình bày của những người làm chứng khác, ông không nhất trí với lời trình bày của bà B; Về danh sách tham gia phường vàng cũng như quá trình tham gia các đương sự đã trình bày; ông tham gia 1 xuất, ngày 27/11/2015 ông là người thứ sáu rút phường cả gốc và lãi là 16 chỉ vàng trong đó đã trừ xuất của mình ra. Thời điểm ông rút phường bà Đinh Thị B đã nộp đủ số vàng cho chủ phường và chủ phường là bà X giao cho ông đều có ký nhận. Khi bà B không góp xuất thứ 15 và thứ 16 cho chủ phường là bà X, bà X có mời các thành viên đến nhà bà X để bà Xuyến thông báo cho các thành viên biết là bà B không góp 2 xuất còn lại để bà X trả cho bà L, bà M. Khi bà Bê đến họp có mang sổ đến thì trong sổ của bà Bê ghi là tham gia phường vàng ngày 25/6/2013 và kết thúc phường vào ngày 25/11/2020. Bà B cho rằng nộp đến xuất 14 là kết thúc phường không còn liên quan nữa. Khi bà B nói các thành viên tham gia phường không đồng tình với ý kiến của bà B, theo danh sách các thành viên tham gia phường là 16 người như vậy còn phải 2 người nữa mới kết thúc. Bà B cứ cãi là đóng xong hết rồi, khi đối chiếu sổ của chủ phường và các thành viên của phường đều khớp nhau nhưng bà B nói là đã nộp rồi và chơi xong rồi không còn liên quan. Để đảm bảo quyền lợi cho bà X đề nghị Tòa án buộc bà Bê phải có trách nhiệm trả 4,8 chỉ vàng cả gốc và lãi cho bà Xuyến để bà Xuyến là chủ phường có trách nhiệm trả cho bà L, bà M. Còn bà M, bà L với bà X giải quyết với nhau như thế nào là chuyện của các bà.

- Bà Phạm Thị m (T) trình bày: Bà nhất trí với lời trình bày của bà X cũng như ý kiến trình bày của những người làm chứng khác: Bà là người rút phường cuối cùng, Thực tế khi bà X khởi kiện bà B ra Tòa án thì bà chưa lấy phường mặc dù phường đã kết thúc vào ngày 25/11/2020 (âm lịch) lý do bà chưa lấy là do bà B chưa góp 2,4 chỉ vàng cả gốc và lãi cho bà X để bà X trả cho bà. Ngày 13/12/2020 (âm lịch) ngày 25/01/2021 dương lịch con dâu bà là Trần Thị H đã nhận 15,6 chỉ vàng từ bà X, còn bà X chưa giao 2,4 chỉ vàng nữa cũng như bà chưa trả công cho bà X 400.000đ. Bà và bà X tự giải quyết với nhau về số vàng 2,4 chỉ vàng và số tiền 400.000đ tiền, bà không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết

+ Bà Mai Thị P trình bày: Bà nhất trí với lời trình bày của bà Xuyến cũng như ý kiến trình bày của những người làm chứng khác. Hôm họp phường vào ngày 24/6/2013, bà có tham gia, có một số người vắng mặt nhưng đều có tên danh sách tham gia chơi phường, trong đó bà B tham gia 2 xuất, 1 xuất đứng tên bà Bê, 1 xuất đứng tên Đỗ Thị Ng con gái bà Bê thực chất đều do bà B góp và rút phường. Bà tham gia 2 xuất; Ngày 25/6/2014 bà là người thứ ba rút phường cả gốc và lãi 15 chỉ 4 phân vàng nếu cả xuất nhà 16 chỉ 4 phân vàng. Ngày 25/11/2016 bà là người thứ 9 rút phường được cả gốc và lãi là 17,6 chỉ vàng cả xuất nhà (trong đó gốc là 16 chỉ, lãi là 1,6) . Thời điểm bà rút phường bà Đinh Thị B đã nộp đủ số vàng cho chủ phưởng và chủ phưởng là bà Xuyến giao cho bà. Khi bà nhận số vàng gốc và lãi từ bà Xbà đã ký nhận vào sổ của bà X cũng như những người đã rút trước bà đều ký nhận vào sổ của bà X. Đến xuất bà L rút thì bà Đinh Thị B không nộp góc và lãi cho chủ phường là bà Xuyến để bà Xuyến trả cho thành viên của phường là bà Liễu, bà Thận. Bà Bê cho rằng nộp đến xuất 14 là kết thúc phường không còn liên quan nữa. Khi bà B nói các thành viên tham gia phường không ai đồng tình với ý kiến của bà B, theo danh sách các thành viên tham gia phường là 16 người như vậy còn phải 2 người nữa mới kết thúc. Khi bà B xuất trình sổ thì bà nhìn thấy sổ của B ghi ngày 25/6/2013 tham gia phường và kết thúc là ngày 25/11/2020 (âm lịch). Bà còn bảo bà Bê sổ của bà ghi ngày tham gia phường và ngày kết thúc phường, bà B cứ cãi là hết rồi và tham gia từ năm 2011. Nay bà X khởi kiện bà Đinh Thị B ra Tòa án yêu cầu bà Bê phải trả số vàng gốc và lãi 4,8 chỉ, đề nghị Tòa án buộc bà B phải trả số vàng này cho bà X để bà X có trách nhiệm trả cho bà L và bà M (Th).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tại phiên tòa đều đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành nghiêm chỉnh theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 116, 117, 471 Bộ luật dân sự 2015; Điều 24 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị X; Buộc vợ chồng bà Đinh Thị B, ông Đỗ Trọng Đ phải trả số 4,8 chỉ vàng 9999 (gốc 4 chỉ, lãi 08 phân) cho vợ chồng bà Bùi Thị X, ông Lê Văn K.

Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Các đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Để có cơ sở xem xét chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn thì cần xem xét một cách khách quan và toàn diện tài liệu chứng cứ, quy định của pháp luật trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử có nhận định, đánh giá cụ thể như sau:

Theo như đương sự trình bày để hỗ trợ kinh tế cho nhau ngày 25/6/2013 bà con khu xóm H, xã X, huyện Xu, tỉnh Nam Định có dựng nên phường vàng do bà Bùi Thị X làm chủ phường. Phường này có 10 người tham gia thành 16 xuất có danh sách thành viên tham gia phường. Trong đó bà Đinh Thị B tham gia 2 xuất phường là đúng. Hình thức tham gia góp phường mỗi một năm góp hai lần, lần thứ nhất vào ngày 25/6 âm lịch, lần thứ hai vào ngày 25/11 âm lịch của năm, mỗi một xuất góp là 01 chỉ vàng 9999, ai lấy trước phải góp lãi cho người lấy sau là 02 phân vàng, tổng là 1,2 chỉ vàng. Còn ai đang tham gia mà bỏ dở thì phải lấy sau cùng. Nếu thành viên phường chưa góp thì thuộc trách nhiệm của chủ phường. Theo lời khai của bà Bùi Thị X cũng như lời khai các thành viên tham gia phường là những người làm chứng đều thống nhất trình bày bà Bùi Thị X là người rút xuất đầu tiên, người rút thứ hai là K, thứ ba là P, còn bà Đinh Thị B là người rút thứ 4 vào ngày 25/11/2014 (âm lịch) được 14 chỉ 6 phân vàng 9999 đã trừ 2 xuất của mình ra (nếu không trừ thì bà B rút tổng số vàng là 16 chỉ 6 phân vàng). Tiếp đến ngày 25/6/2015 (âm lịch) bà B là người rút thứ năm được 14 chỉ 6 phân vàng đã trừ hai xuất của bà B ra. Sau khi bà B rút xuất thứ 4 và thứ 5, bà B còn phải góp từ xuất thứ 6 cho đến xuất 16 còn là 11 người, như vậy mỗi lần bà B góp là 2 chỉ gốc và 04 phân vàng lãi. Tổng bà B còn phải góp 26 chỉ 4 phân vàng cho những người chơi chưa rút, phường vàng này không phải bốc thăm mà nhường cho nhau, ai có nhu cầu cần lấy trước thì ưu tiên. Sau khi bà Đinh Thị B rút và góp tiếp được đến xuất thứ 14 thì không đóng nữa còn xuất thứ 15 và xuất thứ 16 bà B không góp.

Bà Đinh Thị B cho rằng bà tham gia phường vàng của bà Bùi Thị X là từ ngày 25/11/2011 chứ không phải là ngày 25/6/2013 và khẳng định phường vàng này có 16 người tham gia, hình thức góp phường như các đương sự trình bày là đúng. Bà là người thứ 4 rút vào ngày 25/6/2013 được tổng là 14,6 chỉ vàng cả gốc và lãi trong đó trừ hai xuất của nhà ra nếu không trừ là tính cả 16 xuất. Đến ngày 25/11/2013 bà là người thứ năm rút được 14,6 chỉ vàng đã trừ hai xuất của nhà ra. Sau khi rút phường những xuất tiếp theo bà Đinh Thị B đã góp đầy đủ nhưng đến xuất thứ 15 và xuất 16 bà B không góp nữa và cho rằng phường vàng kết thúc vào ngày 25/6/2019 và đã góp đủ cho 16 xuất.

Xét bà Đinh Thị B, bà Bùi Thị X cũng như những người tham gia phường vàng là hoàn toàn tự nguyện là giao dịch dân sự có nghĩa vụ với nhau.

Thứ nhất: Bà Đinh Thị B cho rằng mình tham gia phường vàng vào ngày 25/11/2011 là không phù hợp, bởi lẽ theo lời khai cũng những người làm chứng là các thành viên tham gia phường vàng cũng như căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ được thể hiện phường vàng tham gia ngày 25/6/2013 (âm lịch), còn bà B khai tham gia phường vàng ngày 25/11/2011 (âm lịch) nhưng không xuất trình được tài liệu chứng cứ để chứng minh, mặc dù Tòa án đã yêu cầu bà B xuất trình tài liệu để chứng minh cho lời trình bày của mình. Khi bà B không góp xuất thứ 15 và xuất thứ 16, bà Xu đã thông báo cho các thành viên trong phường đến nhà bà X để họp và thông báo về việc bà B không góp 2 xuất phường còn lại, tại nhà bà Xuyến bà Bê đã xuất trình sổ ghi phường, ông L và bà Ph, bà B đã nhìn thấy và khẳng định trong sổ ghi phường của bà B thể hiện ngày tham gia phường là ngày 25/6/2013 (âm lịch) và ngày kết thúc phường là ngày 25/11/2020 (âm lịch). Vì vậy đủ cơ sở khẳng định phường vàng này tham gia ngày 25/6/2013 và kết thúc ngày 25/11/2020 là đúng.

Thứ hai: Bà Đinh Thị B cho rằng mình rút 2 xuất, là xuất thứ 4 rút vào ngày 25/6/2013 được 14,6 chỉ vàng và xuất thứ 5 rút vào ngày 25/11/2013 được 14,6 chỉ vàng chứ không phải vào ngày 25/11/2014 và ngày 25/6/2015 và không có chữ ký của bà. Trong khi bà Bùi Thị Xuyến và những người làm chứng đều khẳng định bà Đinh Thị B là người rút thứ 4 vào ngày 25/11/2014 (âm lịch) được 14 chỉ 6 phân vàng 9999 đã trừ 2 xuất của Bê ra (nếu không trừ thì bà B rút tổng số vàng là 16 chỉ 6 phân vàng). Tiếp đến ngày 25/6/2015 (âm lịch) bà B là người rút thứ năm được 14 chỉ 6 phân vàng đã trừ hai xuất của bà B ra. Căn cứ vào tài liệu chứng cứ được thể hiện là giấy biên nhận bà B viết tuy không có chữ ký của bà Bê nhưng bà B đã ghi B đã nhận đủ số vàng 16 trong họ ngày 25/11/2014 và ngày 25/6/2015 B đã nhận đủ số vàng 16 người trong họ là phù hợp với thời gian và thực tế số vàng mình nhận. Còn bà B khai rút 2 xuất vào ngày 25/6/2013 (âm lịch) và ngày 25/11/2015 (âm lịch) là không phù hợp và không có tài liệu chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của mình. Ngoài ra Tòa án cho bà Đinh Thị B viết ra một tờ giấy khác để đối chiếu với chữ viết ở giấy biên nhận vàng ngày 25/11/2014 và ngày 25/6/2015 của bà B thì thấy chữ viết ở hai giấy viết này giống nhau. Như vậy khẳng định bà Đinh Thị B rút 2 xuất phường vàng vào ngày 25/11/2014 và ngày 25/6/2015 là đúng.

Thứ ba: Bà Đinh Thị B cho rằng mình chỉ góp phường vàng đến 25/6/2019 là kết thúc nhưng bà Bê không có tài liệu nào để chứng minh là phường kết thúc vào ngày này. Trong khi đó các thành viên trong phường đều khẳng định phường này kết thúc vào ngày 25/11/2020 (âm lịch). Căn cứ vào số vàng mà bà Bê đã lấy thì nghĩa vụ còn lại bà B phải góp cho 11 xuất là đúng. Điều đó khẳng định phường vàng này kết thúc vào ngày 25/11/2020 âm lịch là đúng, vì vậy bà Bê phải góp 2 xuất phường cho bà X để bà X có trách nhiệm trả cho bà L bà M.

Thứ tư: Bà Đinh Thị Bcho rằng mình tham gia phường vàng này không liên quan đến chồng bà là ông Đỗ Trọng Đ, vì không bàn bạc với chồng bà; bà là người quản lý kinh tế trong gia đình, mọi chi tiêu sinh hoạt trong gia đình, trả nợ là do bà quyết định. Ông Đỗ Trọng Đ cho rằng việc bà B vợ ông tham gia phường vàng của bà X ông không biết, bà B không bàn bạc với ông, ông là chủ hộ, bà B là người quản lý kinh tế trong gia, mọi chi tiêu sinh hoạt trong gia đình, trả nợ như thế nào thì ông không biết. Trong khi đó bà B và ông Đ đều khẳng định khi góp phường vàng đều là vàng của vợ chồng tích góp. Mặc dù ông i không được bà B bàn bạc tham gia phường vàng, ông chỉ biết khi bà Xu xuống nhà ông Đ để đòi số vàng đối với bà B thì ông mới biết. Trong khi đó bà B lại là người quản lý kinh tế trong gia đình việc chi tiêu sinh hoạt trong gia đình, trả nợ đều do bà B quyết định mặc dù ông Đ không biết nhưng khi góp phường vàng cho bà X thì đều khẳng định vàng chung của vợ chồng cũng như trả nợ là việc của bà B. Ông Đ không thừa nhận trách nhiệm của mình cùng với bà B vợ ông để trả nợ nhưng với lập luận phân tích ở trên có đủ cơ sở căn cứ buộc ông Đ cùng với bà B phải có trách nhiệm trả 4,8 chỉ vàng cho bà Xuyến là phù hợp.

Đối với khoản 4,8 chỉ vàng mà bà X chưa trả cho bà Nguyễn Thị L, bà Phạm Thị M (T) cũng như bà Liễu, bà Mchưa trả tiền công cho bà X. Bà Xuyến, bà L và bà M có ý kiến là tự thỏa thuận giải quyết với nhau và đều đề nghị Tòa án không xem xét giải quyết là phù hợp.

Từ những phân tích lập luận ở trên có đủ căn cứ xác định vợ chồng bà Đinh Thị B và ông Đỗ Trọng Đ chưa thực hiện nghĩa vụ đóng góp 02 xuất phường vàng còn lại cho bà Bùi Thị X 4,8 chỉ vàng 9999 là đúng, mặc dù phường vàng đã kết thúc. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho vợ chồng bà Xu, ông K, HĐXX sẽ buộc vợ chồng bà B, ông Đ phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ này.

Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sư sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Giá vàng tại thời điểm xét xử là 5.320.000đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Các Điều 116, 117, 471 Bộ luật dân sự 2015; Điều 24 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Xử chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Xu; Buộc vợ chồng bà Đinh Thị B, ông Đỗ Trọng Đ phải trả cho bà Bùi Thị X, ông Lê Văn K 4,8 chỉ vàng 9999 (gốc 4 chỉ vàng, lãi 08 phân vàng).

2. Về án phí: Bà Đinh Thị B và ông Đỗ Trọng Đ phải nộp 1.276.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Bà Bùi Thị X được hoàn lại số tiền 600.000đ đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0001969 ngày 20/01/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ