vanban.org

Bản án 17/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 28/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Văn N phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 01 (Một) chiếc gậy đã khô, bên ngoài có vỏ màu xám, nhiều đốt ụ ở một đầu, dài khoảng 65 cm, đường kính 3 cm. (Vật chứng trên có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương theo biên bản giao nhận vậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Văn N phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2020/HS-ST
Ngày 28-02-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Nguyễn Đình Nhàn.

2. Ông: Trần Văn Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Đạt, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thuỳ Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2018/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N, sinh ngày 02 tháng 8 năm 1983. Nơi cư trú: Xóm 3, xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông Nguyễn Văn Quảng, sinh năm 1957 và bà Đoàn Thị Lan, sinh năm 1958; Vợ: Phạm Thị Dung, sinh năm 1984; con: có ba con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 12/11/2019 bị Công an xã huyện Đô Lương xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với mức phạt 1.500.0000 đồng; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/12/2019 đến ngày 06/01/2020, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/01/2020, hiện tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

*Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Vân, sinh năm 1977.

Trú tại: Xóm 3, xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 28/12/2020, Nguyễn Văn N, sinh năm 1983, trú tại xóm 3, xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, là đối tượng đang có tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, khi N đang ở nhà thì quan sát thấy bên nhà chị Nguyễn Thị Vân, sinh năm 1977, là hàng xóm cạnh nhà của N, không có ai ở nhà và tại khu vực hành lang giữa nhà chính và nhà bếp có xích 01 (một) con chó màu lông đen-vàng. Thấy vậy, N nảy sinh ý định bắt trộm con chó về để mang đi bán, lấy tiền tiêu xài cá nhân. N liền đi lấy một khúc cây bằng gỗ đã khô, dài khoảng 65 cm, đường kính 3cm đi bộ đến nhà chị Nguyễn Thị Vân. Khi đi đến trước mặt con chó, N cầm khúc cây đánh hai phát vào vùng đầu và tai con chó làm con chó bất tỉnh, gục xuống nền. N lại tháo xích ở cổ, dùng hai tay bế con chó lên ôm trước ngực và đi bộ ra khỏi nhà chị Vân. Khi đi đến mảnh đất nhà anh Nguyễn Phùng Khởi ngay gần đó thì bị vợ chồng bà Trần Thị Bình, ông Nguyễn Văn Viết là người hàng xóm cùng trú tại xóm 3, xã Trung Sơn, huyện Đô Lương của nhà N và nhà Chị Vân phát hiện, ông Viết nói với N “N nhà hắn đi khỏi răng mi mần rứa”. Thấy vậy, N liền bỏ con chó xuống dưới đất lấy lá chuối tấp lên xong rồi bỏ đi. Đến ngày 31/12/2019, Nguyễn Văn N đến Ban công an xã Trung Sơn đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Bản kết luận định giá số 01 ngày 02/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đô Lương kết luận: Giá trị 01 (một) con chó cái, màu lông đen-vàng, trọng lượng 10kg, hiện còn sống là 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng).

Vật chứng của vụ án: 1 (một) chiếc gậy đã khô, bên ngoài có vỏ màu xám, nhiều đốt ụ ở một đầu, dài khoảng 65cm, đường kính 3cm và 01 (một) con chó cái, màu lông đen-vàng, trọng lượng 10kg của chị Nguyễn Thị Vân.

Đối với 01 (một) con chó cái, màu lông đen-vàng, trọng lượng 10kg, hiện còn sống xác định là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bà Nguyễn Thị Vân nên ngày 06/01/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đô Lương đã trả lại cho bà Vân. Đối với vật chứng còn lại hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

Trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Vân không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.

Bản cáo trạng số 23/VKS-HS ngày 10/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Văn N về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm a khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội "Trộm cắp tài sản". Áp dụng điểm a khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 06 đến 09 tháng tù; Miễn hình phạt phụ là phạt tiền cho bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nhất trí về tội danh, khung hình phạt, không tranh luận gì thêm và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đô Lương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của bị hại: Tại phiên tòa người bị hại vắng mặt nhưng xét thấy họ đã có lời khai đầy đủ và không ảnh hưởng tới quá trình xét xử vụ án. Căn cứ vào các Điều 292, 299 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa kết luận: Có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Văn N phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: vào ngày 28 tháng 12 năm 2019, tại nhà ở của bà Nguyễn Thị Vân thuộc xóm 3, xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, Nguyễn Văn N đã bắt trộm 01 con chó với trị giá tài sản 800.000 đồng. Tuy giá trị tài sản trộm cắp dưới 2.000.000 đồng nhưng do N đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm a khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có cơ sở.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là liều lĩnh, xem thường pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý bất an trong xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, hoàn toàn đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà có các tình tiết giảm nhẹ sau: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần này là lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đã lên cơ quan công an đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, i khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo là đối tượng có tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản mới bị xử phạt hành chính nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục trộm cắp tài sản thể hiện là đối tượng khó giáo dục cải tạo nên cần xét xử bị cáo nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù bị cáo còn có thể bị phạt tiền hoặc tịch thu tài sản, nhưng qua xác minh của cơ quan điều tra thì bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, tài sản không có gì đáng giá vì vậy không áp dụng hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.

Về vật chứng và xử lý vật chứng: Chiếc gậy đã khô, bên ngoài có vỏ màu xám, nhiều đốt ụ ở một đầu, dà khoảng 65 cm, đường kính 3 cm là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội; buộc bị cáo N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tại phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Nguyễn Văn N phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn N 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 31/12/2019 đến ngày 06/01/2020.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 01 (Một) chiếc gậy đã khô, bên ngoài có vỏ màu xám, nhiều đốt ụ ở một đầu, dài khoảng 65 cm, đường kính 3 cm.

(Vật chứng trên có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/02/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ