- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng Văn Ngh phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sử…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vàng Văn Ngh phạm tội "Cố ý gây thương tích".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2020/HS - ST Ngày 25/ 6 /2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: ông Phan Hồng Ngoãn
Các Hội thẩm nhân dân: ông Sùng A Nhè và ông Cheo An Ngải
- Thư ký phiên tòa: Ông Chảo Hò S- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: ông Phùng Văn Chử- Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:17 /2020/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo: Vàng Văn Ngh; tên gọi khác: không; sinh năm 1970 tại xã B L, huyện Ph Th, tỉnh L Ch; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: bản N M Th, xã M Q, huyện S H, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: không biết chữ (0/12); dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vàng Văn H sinh nâm 1945 và con bà Lò Thị M (đã chết); vợ thứ nhất: Lò Thị L (đã chết), vợ thứ hai: Lò Thị P; bị cáo có 01 con: Vàng Thị H, sinh năm 2011; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị bắt truy nã ngày 21 tháng 12 năm 2019, tạm giữ từ ngày 21 tháng 12 năm 2019, tạm giam từ ngày 24 tháng 12 năm 2019.Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, có mặt.
* Những người tham gia tố tụng khác:
+ Người bị hại: Vàng Văn S, sinh ngày 08/11/ 2000.
Trú tại: bản N M Th, xã M Q, huyện S H, tỉnh Lai Châu. (có mặt).
+ Người làm chứng:
1.Vàng Văn Học, sinh năm 1945.
Trú tại: bản N M Th, xã M Q, huyện S H, tỉnh Lai Châu. (có mặt).
2. Lò Văn Ng, sinh năm 1967.
Trú tại: bản N M Th, xã M Q, huyện S H, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt có lý do).
3. Lò Văn Pơng, sinh năm 1994.
Trú tại: bản N M Th, xã M Q, huyện S H, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt có lý do).
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Công Hưởng, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 11/7/2019, Vàng Văn Ngh sinh năm 1970, trú tại bản N M Th, xã M Q, huyện S H, tỉnh Lai Châu sang nhà người quen hàng xóm uống rượu. Sau khi đi uống rượu xong, khoảng 15 giờ cùng ngày, Ngh đi xem nước dẫn về ao của gia đình, sau đó về nhà. Trên đường về đến trước cửa nhà bố của Ngh là ông Vàng Văn H sinh năm 1945, trú cùng bản thì thấy Vàng Văn S sinh ngày 08/11/2000 trú cùng bản (S là con của em gái Ngh, S đang ở cùng với ông Vàng Văn H) đang nằm võng ở gầm sàn nhà. Do S mượn chài đánh cá của Ngh trước đó chưa trả nên khi gặp S, Ngh nói với S là lấy chài về cho bác đi đánh cá. S trả lời là chài đang để ở lán của một người bạn, do nước lũ không đi lấy về được. Ngh trách S là chài mới mua còn chưa trả hết tiền, cứ để ở nhà người khác, nếu bị rách thì không có chài để đánh cá. Lúc này S dọa mang chài của Ngh đi đốt dẫn đến xảy ra cãi nhau. S lao từ gầm sàn nhà ra đẩy Ngh ngã xuống đường rồi dùng tay đấm vào mặt Ngh, sự việc được người dân trong bản can ngăn, sau đó S đi vào gầm sàn và Ngh cũng đi về nhà. Đi được đoạn thấy có một lưỡi dao không có cán (đã bị rỉ) ở cạnh đường, Ngh nhặt lấy rồi quay lại thách thức S, Ngh phi lưỡi dao về hướng S nhưng không trúng. S lao đến vật Ngh ngã xuống đường bê tông, sau đó dùng tay kéo một chân Ngh lê trên mặt đường bê tông khoảng 10 m, bị trầy xước ở vùng lưng, được người dân trong bản can ngăn, S thả ra thì Ngh về nhà ngủ.
Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, sau khi tỉnh dậy, thấy đau khắp người. Tức giận do bị S đánh, Ngh cầm con dao tông bằng kim loại dài 37 cm, bản dao chỗ rộng nhất 5,5 cm của gia đình đi từ nhà ở lên nhà S để đánh S cho hả giận để lần sau không giám đánh Ngh nữa. Ngh đi lên cầu thang cửa bếp vào nhà, khi vào trong nhà thấy bóng điện sáng mờ mờ, Ngh nhìn thấy có ông Vàng Văn H(bố của Ngh), Vàng Văn S và ông Lò Văn Ng sinh năm 1967, trú cùng bản đang ngồi ăn cơm, S ngồi quay lưng về phía Ngh đi vào. Ngh đi vào cách S khoảng 02 m rồi đứng lại và nói “S, hôm nay tao sẽ chém mày chết”, mục đích là để dọa S. Nhìn thấy Ngh cầm dao nên ông Ng hô lên: S chạy đi, Ngh cầm dao đấy, S đứng dậy chạy qua bên kia cột nhà (cột nhà phía bên trái Ngh đứng) ra cửa thông sang gian bếp (cửa Ngh đi vào). Khi S chạy gần đến cửa, do bất ngờ nên Ngh quay người sang bên trái, tay trái đang cầm dao chém một nhát về phía S, trúng vào vùng trán bên trái của S bị thương. Bị chém, S chạy vào trong bếp, Ngh đuổi theo sau, S nhặt lấy một thanh củi gỗ đang đun dở ở trong bếp, dài 1,02 m, đường kính đầu to 08 cm, đầu nhỏ 07 cm vụt một phát về phía Ngh nhưng trúng vào cột nhà trong gian bếp làm thanh củi văng xuống sàn bếp. Thấy vậy, Ngh giơ dao lên dọa để S không giám vào gần, thấy Ngh giơ dao lên, S lao vào túm tay vật Ngh ngã ngửa xuống sàn nhà (ngay đầu cầu thang đi xuống sân) rồi giằng lấy con dao trên tay của Ngh, quá trình giằng co, S bị dao cứa vào mặt bên trái bị thương. Ông Lò Văn Ng vào can ngăn thì S tước lấy được con dao trên tay Ngh đưa cho ông Ng, S dùng tay phải đấm liên tiếp vào mặt của Ngh, ông Ng cầm con dao ném vào góc bếp củi rồi kéo S vào trong gian nhà chính băng bó vết thương cho S. Sau khi băng bó xong, ông Ng vào bếp đỡ Ngh vào phía trong, lúc này S lao vào đánh liên tiếp vào mặt Ngh. Không can ngăn nổi nên ông Ng chạy ra trước cửa gian nhà chính hô hàng xóm đến giúp can ngăn. Lúc này Lò Văn P sinh năm 1994, trú cùng bản (nhà sát bên cạnh) nghe thấy ông Ng hô nên đến can ngăn và đưa cả hai người đến Trạm y tế xã Ma Quai sơ cứu. Do vết thương ở vùng đầu nên S được đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lai Châu điều trị.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 64/BKL-TTPY ngày 06/8/2019 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Lai Châu kết luận:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Vỡ xương họp sọ vùng trán trái đường vỡ ~ 45mm.
- Vết 1: Vùng trán trái có một sẹo vết thương, ảnh hưởng thẩm mỹ, kích thước: 8cm x 0,1cm.
- Vết 2: Vùng má trái có một sẹo vết thương, ảnh hưởng thẩm mỹ, kích thước: 5cm x 0,1cm.
* Tỷ lệ phần trăm của hai sẹo vết thương là: 11% (mười một phần trăm), theo Thông tư số 20/2014/TT-BYT không tính phần trăm của từng sẹo vết thương (tính phần trăm sẹo vết thương theo nhóm sẹo).
* Vỡ xương hộp sọ vùng trán trái đường vỡ ~ 45mm là: 15% (mười năm phần trăm).
2. Cơ chế hình thành vết thương qua điều trị nên không xác định.
3. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể Vàng Văn S do thương tích gây nên hiện tại là: 24% (hai bốn phần trăm).
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 79/BKL-TTPY ngày 28/8/2019 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Lai Châu kết luận:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Vùng đỉnh đầu có 01 sẹo vết thương, kích thước: 2,5cm x 1,5cm.
- Tại mỏm cùng vai trái có sẹo vết thương, kích thước: 4,5cm x 0,7cm.
- Vùng hạ sườn phải tương ứng với xương sườn số 9, 10 cung trước có 02 sẹo vết thương, kích thước vết 1: 3cm x 0,5cm, kích thước vết 2: 2cm x 0,3cm.
- Vùng lưng bên phải có một đám sây sát da, kích thước: 30cm x 7,5cm; Có chiều từ trên xuống, đang trong quá trình đóng vẩy.
* Theo Thông tư số 20/2014/TT-BYT không tính phần trăm của từng sẹo vết thương (tính phần trăm sẹo vết thương theo nhóm sẹo).
2. Cơ chế hình thành vết thương qua điều trị nên không xác định.
3. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể Vàng Văn Ngh do thương tích gây nên hiện tại là: 10% (mười phần trăm).
Vàng Văn Ngh đã có đơn không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Vàng Văn S.
Bản Cáo trạng số 16/CT-VKSSH ngày 29/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo Vàng Văn Ngh về tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Vàng Văn Ngh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình giống như bản cáo trạng đã truy tố, không oan, không sai. Người bị hại Vàng Văn S, về phần trách nhiệm hình sự: Giữ nguyên quan điểm xin giảm nhẹ hình phạt trách nhiệm hình sự cho bị cáo, người bị hại cho rằng bị hại cũng có một phần lỗi của bản thân bị hại gây ra cho bị cáo; về phần trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vàng Văn Ngh phạm tội cố ý gây thương tích; áp dụng điểm đ khoản 2 điều 134; điểm e, s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vàng Văn Ngh từ 04 năm đến 05 năm tù. Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu để tiêu hủy: 01 con dao, loại dao tông được làm bằng kim loại, cán dao bằng kim loại, có tổng chiều dài 37cm, chỗ rộng nhất 5,5 cm, chỗ hẹp nhất 3,5cm; 01 cây gỗ dài 1,02cm, một đầu bị cháy do đun nấu, đầu to có đường kính 08cm, chỗ nhỏ có đường kính 07 cm; trả lại cho người bị hại Vàng Văn S 01 áo sơ mi dài tay màu đen, cũ đã qua sử dụng.
Về phần trách nhiệm dân sự: Bị hại Vàng Văn S không có yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự nên không đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Người bào chữa trình bày luận cứ bào chữa: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn; bị cáo là người không biết chữ nên nhận thức pháp luật có phần còn hạn chế. Ngoài ra người bị hại Vàng Văn S là cháu (con của em gái Ngh), từ nhỏ đã được Vàng Văn Ngh nuôi dạy và cho ăn học, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo là có một phần lỗi của bị hại; bố của bị cáo là người có công với Cách mạng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ răn đe đối với bị cáo; bị hại Vàng Văn S không yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật; Về án phí: theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo là người dân tộc thiểu số ở nơi có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 37, Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định; bị cáo không có khiếu nại; nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.
Đánh giá hành vi của bị cáo, đề nghị của Kiểm sát viên, yêu cầu của người bị hại:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo Vàng Văn Ngh đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phien tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập đúng trình tự, thủ tục tố tụng hình sự; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 11/7/2019 tại nhà ông Vàng Văn H, sinh năm 1945, trú tại: bản N M Th, xã M Q, huyện S H, tỉnh Lai Châu. Bị cáo Vàng Văn Ngh dùng một con dao tông bằng kim loại dài 37 cm, bản dao chỗ rộng nhất 5,5 cm chém một nhát về phía Vàng Văn S, trúng vào trán bên trái của S. Hậu quả S bị thương tích 15 %. Sau khi chém xong, S chạy vào trong bếp lấy một thanh củi gỗ dài 1,02 m, đường kính đầu to 08 cm, đầu nhỏ 07 cm vụt một phát về phía Ngh trúng vào cột nhà văng xuống nền nhà. Ngh giơ dao lên để doạ S không vào gần, thấy vậy S lao vào giằng lấy con dao trên tay Ngh, quá trình giằng co, S bị dao cứa vào mặt bên trái. Hậu quả bị thương 11%. Tổng tỷ lệ thương tật do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 24%. Hàng vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cầu thành tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Những chứng cứ buộc tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ pháp lý và phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện, phù hợp với nhân thân, lai lịch của bị cáo.
Luận cứ của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhạ trách nhiệm hình sự, đề nghị miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí đối với bị cáo là có căn cứ. Tuy nhiên, việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là không đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo nên đề nghị này không được chấp nhận.
Bị cáo Vàng Văn Ngh là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi trên đây của bị cáo Ngh là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm bất hợp pháp đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo hộ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo không có ý định tước đoạt tính mạng của người bị hại, nhưng khi bị cáo thực hiện hành vi dùng dao chém về phía bị hại, trúng vào đâu thì trúng đã thể hiện bị cáo có ý thức để mặc hậu quả xảy ra. Do đó, đủ cơ sở xác định bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp đối với hành vi nhưng gián tiếp đối với hậu quả, hậu quả đến đâu xử lý trách nhiệm hình sự đến đó. Trong vụ án này, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là gây thương tích cho bị hại là anh Vàng Văn S nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về tội Cố ý gây thương tích.
Bản cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố Vàng Văn Ngh về tội “ Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung qui định tại điểm đ khoản 2 điều 134 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan, không sai.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, xét về nhân thân năm 1997 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xử phạt 12 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích theo bản án số 23 ngày 19 tháng 4 năm 1997.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn; Ngoài ra người bị hại Vàng Văn S là cháu (con của em gái Ngh), từ nhỏ đã được Vàng Văn Ngh nuôi dạy và cho ăn học đến lớp 9/12 nhưng S không chịu nghe lời mà còn có hành vi đánh bị cáo dẫn đến bị cáo bị kích động về tinh thần, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo là do một phần lỗi của người bị hại; bị cáo là con của người có công với cách mạng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng: Tịch thu để tiêu hủy: 01 con dao, loại dao tông được làm bằng kim loại, cán dao bằng kim loại, có tổng chiều dài 37cm, chỗ rộng nhất 5,5 cm, chỗ hẹp nhất 3,5cm; 01 cây gỗ dài 1,02cm, một đầu bị cháy do đun nấu, đầu to có đường kính 08cm, đầu nhỏ nhất có đường kính 07 cm đây là những công cụ phạm tội nên tịch thu để tiêu hủy; trả lại cho Vàng Văn S 01 áo sơ mi dài tay màu đen, cũ đã qua sử dụng.
Đối với 01(một) một lưỡi dao không có cán (đã bị rỉ) bằng kim loại trong quá trình điều tra Công an Cảnh sát điều tra huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã triển khai lực lượng, tìm kiếm vật chứng tại địa điểm mà đối tượng Vàng Văn Ngh khai nhận đồng thời mở rộng phạm vi tìm kiếm nhưng không tìm thấy, việc không tìm được vật chứng nêu trên không ảnh hưởng đến quá trình điều tra, truy tố, xét xử nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với hành vi của Vàng Văn S dùng tay đánh gây thương tích cho bị cáo Vàng Văn Ngh 10%. Tuy nhiên hành vi của Vàng Văn S là Cố ý gây thương tích đối với người nuôi dưỡng mình, hành vi này đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Trong quá trình điều tra Vàng Văn Ngh đã viết đơn đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Vàng Văn S. Vì vậy, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ đã ra quyết định xử lý hành chính đối với Vàng Văn S về hành vi trên.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà Người bị hại Vàng Văn S không yêu cầu Vàng Văn Ngh bồi thường về phần trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí theo quy định tại Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm e, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Vàng Văn Ngh phạm tội "Cố ý gây thương tích".
Xử phạt bị cáo Vàng Văn Ngh : 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 21/12/2019.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu để tiêu hủy: 01 con dao, loại dao tông được làm bằng kim loại, cán dao bằng kim loại, có tổng chiều dài 37cm, chỗ rộng nhất 5,5 cm, chỗ hẹp nhất 3,5cm; 01 cây gỗ dài 1,02cm, một đầu bị cháy do đun nấu, đầu to có đường kính 08cm, đầu nhỏ nhất có đường kính 07cm; trả lại cho Vàng Văn S 01 áo sơ mi dài tay màu đen, cũ đã qua sử dụng.
3. Án phí sơ thẩm: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25 tháng 6 năm 2020).
5. Về biện pháp ngăn chặn:
Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25 tháng 6 năm 2020).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Sìn Hồ; - Công an huyện Sìn Hồ; - CC THADS huyện Sìn Hồ; - UBND xã M Q; - Bị hại; - Bị cáo; Người bào chữa; - Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hồng Ngoãn |