- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bui Thanh L pham toi Huy hoai tai san - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thành L phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN CHAÂU THAØNH TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2020/HS-ST Ngày: 8-6-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Việt Quốc
2. Ông Châu Văn Bằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Phan Phát Tấn - Kiểm sát viên.
Ngày 8 tháng 6 năm 2020, tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2020/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:
Bùi Thành L, sinh năm: 1998 tại huyện C, tỉnh H; Nơi cư trú: ấp P, thị trấn N, huyện C, tỉnh H; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: không xác định được; họ và tên mẹ: bà Bùi Thị Thanh T (sống); Bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: 03. Lần 1 là ngày 22/4/2018 bị Công an thị trấn Ngã Sáu xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Lần 2 ngày 14/10/2019 bị Công an thị trấn Ngã Sáu xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi đánh nhau và lần 3 ngày 6/11/2019 bị Ủy ban nhân dân thị trấn Ngã Sáu xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.500.000 đồng về hành vi Hủy hoại tài sản của người khác (bl: 106-109). Bị cáo chưa chấp hành nộp phạt; nhân thân: xấu; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/3/2020 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
1/ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1946; Địa chỉ: ấp P, thị trấn N, huyện C, tỉnh H (có mặt)
2/ Ông Lê Văn B, sinh năm: 1948; Địa chỉ: ấp P, thị trấn N, huyện C, tỉnh H (có mặt)
3/ Bà Huỳnh Thị Kim A, sinh năm: 1958; Địa chỉ: ấp P, thị trấn N, huyện C, tỉnh H (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1946; Địa chỉ: ấp P, thị trấn N, huyện C, tỉnh H (có mặt)
2/ Ông Nguyễn Văn G, sinh năm: 1954; Địa chỉ: ấp P, thị trấn N, huyện C, tỉnh H (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 27/01/2020 Bùi Thành L, sau khi uống rượu về nhà bà Nguyễn Thị H (bà ngoại của L) ngụ tại ấp P, thị trấn N, huyện C, tỉnh H. L hỏi xin tiền bà H để tiêu xài, bà H không cho nên L cự cải với bà H, L dùng tay đập phá tài sản của bà H, cụ thể: làm hư hỏng hoàn toàn 01 phích nước đựng nước nóng nhãn hiệu Rạng Đông, vỏ màu đỏ; đập 01 bàn gỗ kích thước (100 x 50 x 47)cm làm một góc bàn bung ra kích thước (0,3 x 25)cm; đập 01 tủ nhôm có kích thước (1,35 x 0,50 x 1,85)cm làm hư hỏng một bên tủ có kích thước (90 x 50)cm. L tiếp tục dùng quẹt gas đốt cháy vách lá nhà bà H có kích thước (140 x 80)cm, làm lửa cháy xém vỏ bọc nệm cao su của ông Nguyễn Văn G đang phơi cập bên vách nhà của bà H có kích thước (65 x 35)cm. Chưa dừng lại tại đây, L còn vô cớ dùng đá, đất ném vào nhà của người dân ở cùng ấp với bà H, cụ thể: L lượm đá dưới mặt lộ ném vào nhà ông Lê Văn B làm vỡ kính cửa bên trái có kích thước (5,5 x 0,7)cm và vở kính cửa bên phải 02 lỗ có kích thước (17 x 12)cm và kích thước (12 x 06)cm; L tiếp tục dùng đất khô ném vào nhà bà Huỳnh Thị Kim A làm vỡ kính cửa bên trái có kích thước (110 x 55)cm thì bị Công an thị trấn Ngã Sáu đến ngăn cản đưa L về trụ sở làm việc.
Trong quá trình Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Châu Thành thụ lý giải quyết vụ việc; Bùi Thành L tiếp tục đập phá tài sản của bà Nguyễn Thị H vào ngày 23/02/2020 gồm: 01 bàn gỗ dài (2m x 80cm) làm gãy 04 chân; 01 bộ ly quăng bằng gỗ dài (02m x 1,5m) bị thủng 01 lỗ trên mặt ván có kích thước (30 x 40) cm.
Tại kết luận định giá tài sản số: 07/KL.ĐG ngày 26/02/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành kết luận: tài sản Bùi Thành L đập phá gây thiệt hại ngày 27/01/2020 có tổng giá trị 825.120 đồng (bl 69-70)
Tại kết luận định giá tài sản số: 11/KL.ĐG ngày 06/4/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành kết luận: tài sản Bùi Thành L đập phá gây thiệt hại ngày 23/02/2020 có tổng giá trị 580.000 đồng (bl 170)
Tại Cáo trạng số 21/CT-VKS-HCT, ngày 11/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Bùi Thành L về tội “Hủy hoại tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù, thời gian phạt tù tính từ ngày 10/3/2020.
Bị hại bà Nguyễn Thị H về trách nhiệm hình sự: tại phiên tòa bà H xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, về trách nhiệm dân sự không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Bị hại bà Huỳnh Thị Kim A yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định pháp luật, về trách nhiệm dân sự gia đình bị cáo đại diện bà Nguyễn Thị H (bà ngoại bị cáo) đã bồi thường số tiền 500.000 đồng, nên không yêu cầu gì thêm.
Bị hại ông Lê Văn B yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định pháp luật, về trách nhiệm dân sự gia đình bị cáo đại diện bà Nguyễn Thị H (bà ngoại bị cáo) đã bồi thường thiệt hại là lắp đặt lại cửa kính với số tiền 220.000 đồng, nên không yêu cầu gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng là bị hại trong vụ án: bà Nguyễn Thị H (bà ngoại bị cáo) đã thay bị cáo bồi thường cho bà Kim A và ông B với tổng số tiền 720.000 đồng, không có yêu cầu bị cáo trả lại số tiền trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Nguyễn Văn G, có vỏ nệm bị cháy xém làm hư hỏng một phần do thiệt hại không lớn, nên không yêu cầu bị cáo bồi thường.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Xét hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn G đã được Tòa án nhân dân huyện Châu Thành triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử nhưng vẫn vắng mặt. Quá trình điều tra ông G đã có những lời khai nêu rõ ý kiến về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo. Do đó xét thấy việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông G không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã có cơ sở xác định: Vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 27/01/2020 tại ấp P, thị trấn Ngã Sáu, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Bùi Thành L, sau khi uống rượu về xin tiền bà Nguyễn Thị H (bà ngoại L), bà H không cho nên L cự cải với bà H, L dùng tay đập phá tài sản của bà H, cụ thể: làm hư hỏng hoàn toàn 01 phích nước đựng nước nóng nhãn hiệu Rạng Đông, vỏ màu đỏ; đập 01 bàn gỗ kích thước (100 x 50 x 47)cm làm một góc bàn bung ra kích thước (0,3 x 25)cm; đập 01 tủ nhôm có kích thước (1,35 x 0,50 x 1,85)cm làm hư hỏng một bên tủ có kích thước (90 x 50)cm. L tiếp tục dùng quẹt gas đốt cháy vách lá nhà bà H có kích thước (140 x 80)cm. Chưa dừng lại tại đây, L còn vô cớ dùng đá, đất ném vào nhà của người dân ở cùng ấp với bà H, cụ thể: L lượm đá dưới mặt lộ ném vào nhà ông Lê Văn B làm vỡ kính cửa bên trái có kích thước (5,5 x 0,7)cm và vở kính cửa bên phải 02 lỗ có kích thước (17 x 12)cm và kích thước (12 x 06)cm; L tiếp tục dùng đất khô ném vào nhà bà Huỳnh Thị Kim A làm vỡ kính cửa bên trái có kích thước (110 x 55)cm, với tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 825.120 đồng. Trong quá trình Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Châu Thành thụ lý giải quyết vụ việc; Bùi Thành L tiếp tục đập phá tài sản của bà Nguyễn Thị H vào ngày 23/02/2020 gồm: 01 bàn gỗ dài (2m x 80cm) làm gãy 04 chân; 01 bộ ly quăng bằng gỗ dài (02m x 1,5m) bị thủng 01 lỗ trên mặt ván có kích thước (30 x 40) cm, với tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 580.000 đồng. Vậy tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 1.405.120 đồng. Mặc dù tổng tài sản bị thiệt hại theo 02 kết luận định giá chưa đủ 2.000.000 đồng nhưng bản thân Bùi Thành L ngày 6/11/2019 đã bị Ủy ban nhân dân thị trấn Ngã Sáu xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.500.000 đồng về hành vi Hủy hoại tài sản của người khác (bl: 106-109). Vì vậy hành vi này của bị cáo Bùi Thành L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự và an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người dân. Ngoài ra hành vi bị cáo dùng quẹt gas đốt vách nhà lá của bà H, chọi đá vào nhà ông B và chọi đất vào nhà bà Kim A còn có thể xảy ra thiệt hại về tính mạng và sức khỏe của người khác. Do đó cần phải xử lý và áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng
Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tác động gia đình khắc phục hậu quả theo yêu cầu của bị hại; bà Nguyễn Thị H (bà ngoại bị cáo) là người có công với cách mạng, đang hưởng chế độ thương binh. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với hành vi phạm tội của bị cáo là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 03 cục đất màu xám; 10 tấm kính bị vỡ màu nâu; 01 cái phích nước màu đỏ đã bị hư hoàn toàn.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thành L phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Thành L 11 (mười một) tháng tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày 10/3/2020
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì thêm, nên không đặt vấn đề giải quyết.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 03 cục đất màu xám; 10 tấm kính bị vỡ màu nâu; 01 cái phích nước màu đỏ đã bị hư hoàn toàn. Vật chứng theo phiếu nhập kho số 23, ngày 14/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ánh phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng
Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND huyện Châu Thành; - VKSND tỉnh Hậu Giang; - CQĐT huyện Châu Thành; - THA huyện Châu Thành; - Những người tham gia TT; - Lưu HS. | Phạm Tiến Dũng |