- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Trần Văn Đ phải nộp 200.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2020/HS-ST Ngày 19-6-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: à Nguyễn Thị uyến
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đàm Công u
Ông Lê Văn Minh.
- Thư ký phiên toà: à Nguyễn Thị Thanh Huyền- Thư ký Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2020, đối với bị cáo:
Trần Văn Đ, tại Hải Phòng; nơi cư tr : Thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Bùi Thị Đ; chưa có vợ con; tiền án: Có 01 tiền án: Bản án số 57/2019/HS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày 20 tháng 12 năm 2019; tiền sự: Không; nhân thân: Có 01 tiền sự đã được xóa, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01 ngày 17 tháng 02 năm 2017 của Ủy ban nhân dân xã Quốc Tuấn, huyện An Lão xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; bị bắt tạm giam từ ngày 02 tháng 4 năm 2020 tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải h ng; có mặt.
- Bị hại:Chị Nguyễn Thị Thùy T; trú tại: Thôn C, xã Q, huyện A,Hải Phòng; vắng mặt.
- Những người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T, vắng mặt; chị Bùi Thị Th, vắng mặt; anh Vũ Nhật Q, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 25-2-2020,Trần Văn Đ đã đột nhập vào nhà chị Nguyễn Thị Thùy T ở thôn C, xã Q, huyện A, TP Hải Phòng và chiếm đoạt 01 Laptop nhãn hiệu ASUS; 01 t i đựng laptop; 01 đồng hồ đeo tay nhãn hiệu SKMEI. Trong lúc đang lấy tài sản thì Đô bị chị Trang phát hiện và hô "trộm, trộm". Ông Nguyễn Văn T là bố chị T chạy từ tầng một lên nhìn thấy Đ. Đ bỏ chạy qua lan can ban công theo lối cũ, vứt lại túi vải bên trong đựng Laptop trên mái tôn nhà ông T rồi tẩu thoát. Gia đình chị T đã nhặt lại chiếc túi này và tìm thấy 01 t i xách màu đen ở trước cửa nhà bà L, bên trong có 01 đôi dép xỏ ngón màu đỏ đen, 01 áo khoác màu đen S I ER MAN, 01 quần đùi màu đỏ ADIDAS. Ngoài ra trong túi còn có 01 bản sao sổ hộ khẩu, 01 bản sao giấy khai sinh, 01 bản sao Chứng minh thư nhân dân đều mang tên Vũ Nhật Q, ĐKHKTT tại thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng.
Ngày 26-02-2020 ông Nguyễn Văn T trình báo vụ việc và bàn giao lại toàn bộ tài sản, đồ vật đã tìm thấy cho Công an xã Quang Trung. Cùng ngày, Cơ quan Công an triệu tập Trần Văn Đ, Đ đã tự nguyện bàn giao lại: 01 đồng hồ đeo tay SKMEI (là tài sản Đ đã chiếm đoạt của chị T), 01 quần soóc bò màu xanh SUPERMAN, 01 áo phông ngắn tay màu xanh DEZERRO là trang phục Đ đã mặc khi đi trộm cắp tại nhà chị T. Đối với 01 t i xách màu đen ở trước cửa nhà chị L, bên trong có 01 đôi dép xỏ ngón màu đỏ đen, 01 áo khoác màu đen S I ER MAN, 01 quần đùi màu đỏ ADIDAS, 01 bản sao sổ hộ khẩu, 01 bản sao giấy khai sinh, 01 bản sao Chứng minh thư nhân dân đều mang tên Vũ Nhật Q, Đ khai túi này là do Q cho Đ từ trước để Đ đựng quần áo, giấy tờ của Q để ở trong t i nên Đ không biết.
Tại bản định giá tài sản số 04 ngày 11-3-2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện An Lão kết luận: 01 Laptop nhãn hiệu ASUS màu đen mã số máy X751LB-TY201T, số seri máy F9N0WU294070408 trị giá 4.000.000 đồng; 01 đồng hồ điện tử đeo tay nhãn hiệu SKMEI màu vàng, dây kim loại màu vàng, mặt sau có in 1123 SKMEI BATTERY CODE CR2016 trị giá 50.000 đồng; 01 t i đựng Laptop màu xanh da trời có dây đeo, kích thước 40cm x 25cm trị giá 50.000 đồng. Tổng giá trị của những tài sản trên là 4.100.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão, Trần Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Vật chứng vụ án: Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão đang quản lý: 01 quần soóc bò màu xanh, 01 áo phông ngắn tay màu xanh, 01 túi xách màu đen, 01 đôi dép xỏ ngón màu đỏ đen, 01 áo khoác màu đen, 01 quần đùi màu đỏ; 01 bản sao sổ hộ khẩu, 01 bản sao giấy khai sinh và 01 bản sao Chứng minh nhân dân đều mang tên Vũ Nhật Q. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chị Nguyễn Thị Thùy T 01 Laptop ASUS, 01 đồng hồ đeo tay SKMEI, 01 t i đựng Laptop màu xanh da trời.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Thuỳ T đã được nhận lại tài sản do Đ chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm.
Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 26-5-2020, Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão đã truy tố Trần Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Đ đã khai nhận toàn bộ nội dung, diễn biến như cáo trạng đã nêu, bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. ị hại và toàn bộ những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên t a.
Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 56, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Đ với mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo theo Bản án số 57/2019/HS-ST ngày 20-12-2019 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, buộc bị cáo Trần Văn Đ phải chấp hành hình phạt chung từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 02-4-2020; về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28-5-2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão; về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét; buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của bị cáo: Không tranh luận về tội danh, căn cứ pháp luật áp dụng. Về mức hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Lão, thành phố Hải h ng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. o đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 25-02-2020, tại nhà chị Nguyễn Thị Thùy T ở thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng, Trần Văn Đ đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt 01 Laptop nhãn hiệu ASUS trị giá 4.000.000 đồng; 01 đồng hồ điện tử nhãn hiệu SKMEI trị giá 50.000 đồng; 01 t i đựng Laptop trị giá 50.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 4.100.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão đã truy tố là có căn cứ, đ ng người, đ ng tội, đ ng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bản án số 57/2019/HS-ST ngày 20-12-2019 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xử phạt Trần Văn Đ 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày 20-12-2019 về tội "Trộm cắp tài sản". Theo quy định tại khoản 1 Điều 53, Điều 69, Điều 70 và Điều 73 Bộ luật Hình sự thì bị cáo chưa được xóa án tích, nay lại phạm tội mới do cố ý nên lần phạm tội này của được xác định là “tái phạm”. Vì vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với nội dung Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: "Người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả" (về việc bị cáo sau khi bị công an triệu tập đã nộp lại chiếc đồng hồ trị giá 50.000 đồng do chiếm đoạt của bị hại) để áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy không thỏa đáng nên không chấp nhận.
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị xử lý hành chính và xét xử đều về nhóm tội chiếm đoạt tài sản nhưng vẫn không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội trong thời gian chấp hành hình phạt tù có thời hạn nhưng cho hưởng án treo. Điều đó thể hiện ý thức, thái độ coi thường pháp luật của bị cáo.
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân là khách thể được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy việc để bị cáo cải tạo ngoài xã hội là không hiệu quả nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị lớn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện An Lão đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chị Nguyễn Thị Thùy T 01 Laptop nhãn hiệu ASUS; 01 đồng hồ đeo tay nhãn hiệu SKMEI và 01 t i đựng Laptop là phù hợp với quy định của pháp luật. Đối với những vật dụng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28-5-2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, bị cáo không có nhu cầu nhận lại vì không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được nhận lại toàn bộ tài sản bị mất và không đề nghị gì thêm về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo các điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 2 Điều 52, Điều 56, Điều 65 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo theo Bản án số 57/2019/HS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, buộc bị cáo Trần Văn Đ phải chấp hành hình phạt chung là 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 02 tháng 4 năm 2020.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Trần Văn Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự , tịch thu tiêu hủy: 01 quần soóc bò màu xanh SUPERMAN, 01 áo phông ngắn tay màu xanh DEZERRO, 01 túi xách màu đen, 01 đôi dép xỏ ngón màu đỏ đen, 01 áo khoác màu đen S I ER MAN, 01 quần đùi màu đỏ ADIDAS; 01 bản sao sổ hộ khẩu, 01 bản sao giấy khai sinh và 01 bản sao Chứng minh nhân dân đều mang tên Vũ Nhật Q (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 5 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão).
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là chị Nguyễn Thị Thùy T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
| Nơi nhận: - TAND TP Hải Phòng; - VKSND TP Hải Phòng; - PV 06; PC10 Công an TP Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP Hải Phòng; - VKSND huyện An Lão; - CA huyện An Lão; - Chi cục THADS huyện An Lão; - Bị cáo; bị hại; - Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Duyến |