vanban.org

Bản án 17/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị D-Nguyễn Thanh T"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình xử lý; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH!CÀ!MAU
Bản án số: 17/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 27-3-2020

V/v ly hôn

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!THỚI!BÌNH,!TỈNH!CÀ!MAU!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hoàng Thành

Ông Lê Bình Triệu

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện!Thới!Bình,!tỉnh!Cà!Mau tham!gia! phiên!toà: Ông Võ Hồng Quân, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 435/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2019 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2020/QĐXX-ST ngày 11 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị D, sinh năm 1985 (có yêu cầu xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

*Tại đơn khởi kiện ngày 21/5/2019 và quá trình giải quyết vụ án chị Phạm Thị D trình bày:

1

Chị D và anh T tự tìm hiểu và được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 22/12/2006. Thời gian chung sống vợ chồng không hạnh phúc, xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên hôn nhận không thể kéo dài. Do đó, chị D yêu cầu ly hôn với anh T.

Con chung tên Nguyễn Thị D M, sinh ngày 03/12/2007 và Nguyễn Phong V, sinh ngày 09/10/2015. Con chung hiện anh T nuôi dạy nên chị D tự nguyện giao anh T tiếp tục nuôi dạy. Chị D không cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đã tuân thủ đúng theo quy định.

Về nội dung: Chị D và anh T chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn là tuân thủ đúng quy định pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị D yêu cầu ly hôn với anh T. Do đó, áp dụng Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho chị D và anh T được ly hôn; con chung cần tiếp tục giao anh T nuôi dạy, chị D không phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nợ chung không có nên không đề nghị xem xét.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp:

[1] Chị Phạm Thị D khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Nguyễn Thanh T. Do chị D và anh T chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; anh T có địa chỉ tại ấp A, xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị D thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2

[2] Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T nhưng anh T không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu của chị D và vắng mặt tại các lần xét xử không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh T theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng chị D vào ngày 04/3/2020 có yêu cầu xin vắng mặt tại vụ án nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị D theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

[3] Về hôn nhân: Chị Phạm Thị D và anh Nguyễn Thanh T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 22/12/2006. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Do chị D và anh T chung sống với nhau không còn hạnh phúc nên anh chị đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để anh chị có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do anh T vắng mặt tại các lần hòa giải, xét xử không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho chị Phạm Thị D và anh Nguyễn Thanh T được ly hôn là phù hợp.

[4] Về con chung: Thời gian chung sống, chị D và anh T có 02 con chung tên Nguyễn Thị D M, sinh ngày 03/12/2007 (giới tính nữ) và Nguyễn Phong V, sinh ngày 09/10/2015 (giới tính nam). Xét thấy, chị D tự nguyện giao con chung cho anh T tiếp tục nuôi dạy là có căn cứ. Bởi vì, con chung hiện anh T nuôi dạy, việc hoán đổi nuôi con sẽ làm ảnh hưởng đến tình cảm của các cháu. Hơn nữa, tại bản tự khai và biên bản ghi lời khai cháu M có yêu cầu và nguyện vọng được tiếp tục sống chung với anh T. Do cháu M đã trên 07 tuổi nên yêu cầu và nguyện vọng của cháu M là phù hợp theo pháp luật, được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần tiếp tục giao con chung cho anh T nuôi dạy là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tống đạt thông báo thụ lý về việc yêu cầu của chị D nhưng anh T không có văn bản ý kiến yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

3

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Tại xác nhận ngày 21/5/2019 của Ủy ban nhân dân xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xác nhận anh T và chị D không có bị ai khiếu kiện nợ tại địa phương. Tại đơn khởi kiện cũng như quá trình giải quyết vụ án, chị D xác định thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung và không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Thị D phải chịu án phí – Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Xét xử vắng mặt đối với chị Phạm Thị D và anh Nguyễn Thanh T.

2.Về hôn nhân: Chị Phạm Thị D và anh Nguyễn Thanh T được ly hôn.

3.Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị D M, sinh ngày 03/12/2007 (giới tính nữ) và Nguyễn Phong V, sinh ngày 09/10/2015 (giới tính nam) cho anh Nguyễn Thanh T tiếp tục nuôi dạy. Chị Phạm Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị D không trực tiếp nuôi dạy con chung nhưng chị có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Thị D phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 03 tháng 12 năm 2019 chị D có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0010764 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.

4

6.Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bản án này là sơ thẩm, báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Cỡ chữ