vanban.org

Bản án 17/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H'B Ayun+Y N Byă"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG PẮC
TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2020/HNGĐ – ST
Ngày 28/7/2020.
V/v: Xin ly hôn
và nuôi con chung

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán -Chủ toạ phiên toà: Bà H’Năm Bkrông.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Nguyễn Ngọc Huỳnh.

2.Bà Trịnh Thị Oanh.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hải Lý – Thư ký Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đăk Lăk.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thủy –Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2020, Toà án nhân dân huyện Krông Pắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2020/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2020/QĐXX – HNGĐ ngày 17/6/2020, giữa các đương sự :

- Nguyên đơn: Chị H’B Ayun – Sinh năm: 1987.

Địa chỉ: Buôn K.A, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk –Có mặt.

- Bị đơn: Anh Y N Byă – Sinh năm: 1988.

Địa chỉ: Buôn K.A, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk –Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị H’B Ayun trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Y N Byă tìm hiểu, chung sống và đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã E, huyện K vào ngày 13/10/2014 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi chung sống hạnh phúc một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh Y N không có trách nhiệm với gia đình,thường xuyên cờ bạc, rượu chè và còn đánh đập vợ con. Do mâu thuẫn xảy ra thường xuyên nên chị đã đưa con về sống tại nhà bố mẹ ruột từ năm 2019 đến nay. Xét thấy mâu thuẫn trầm trọng và không còn tình cảm với nhau nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Y N.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là cháu Y Z Ayun, sinh ngày 19/10/2014 và cháu H’Z1 Ayun, sinh ngày 10/6/2016. Chị H’B có nguyện vọng nuôi dưỡng cả 02 con và không yêu cầu anh Y N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H’B không yêu cầu tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn là anh Y N Byă không đến Tòa án làm việc.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án:

-Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử thẩm phán chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay có thể xác định tình trạng hôn nhân của chị H’B và anh Y N mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được, chị H’B và anh Y N đã sống ly thân một thời gian dài từ tháng 7 năm 2019 cho đến nay. Do đó có cơ sở để chấp chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H’B Ayun.

Về con chung: Chị H’B và anh Y Nh có 02 con chung là cháu Y Z Ayun, sinh ngày 19/10/2014 và cháu H’Z1 Ayun, sinh ngày 10/6/2016, chị H’B có nguyện vọng được chăm sóc 02 con cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh Y N cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy anh Y N thường xuyên rượu chè, cờ bạc, không chăm lo cho các con, từ tháng 7/2019 đến nay anh Y N không qua lại thăm nom con chung, mặt khác cháu H’Z1 là con gái, cần sự chăm sóc của mẹ, vì vậy để đảm bảo quyền lợi cho các con nên cần chấp nhận nguyện vọng của chị H’B, giao 02 con chung là cháu Y Z Ayun và cháu H’Z1 Ayun cho chị H’B Ayun nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp.

Từ những nhận định nêu trên,

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị H’B Ayun được ly hôn với anh Y N Byă.

Về con chung: Giao cháu Y Z Ayun, sinh ngày 19/10/2014 và cháu H’Z1 Ayun, sinh ngày 10/6/2016 cho chị H’B Ayun trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu tròn18 tuổi. Chị H’B Ayun không yêu cầu anh Y N Byă cấp dưỡng nuôi con chung.

Đối với tài sản chung và nợ chung: Chị H’B Ayun không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, xem xét ý kiến của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1].Về quan hệ pháp luật: Quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự và loại tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

.Về trình tự thủ tục tố tụng: Xét thấy bị đơn –anh Y N Byă đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, vì vậy Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

.Về nội dung:

-Về quan hệ hôn nhân: Chị H’B Ayun và anh Y N Byă có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 13/10/2014, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống, vợ chồng 02 con chung là cháu Y Z Ayun, sinh ngày 19/10/2014 và cháu H’Z1 Ayun, sinh ngày 10/6/2016. Sau một thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống bất đồng nên đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay.Tại phiên tòa hôm nay chị H’B xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị H’B và anh Y N đã đến mức trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay mà không có biện pháp hàn gắn hạnh phúc gia đình, như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị H’B và anh Y N không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn khởi kiện của chị H’B, cho chị H’B Ayun được ly hôn với anh Y N Byă.

-Về con chung: Quá trình giải quyết vụ án, chị H’B có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 02 con chung, hiện nay các con đều đang cùng sống với mẹ, được chị H’B trực tiếp chăm sóc, đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, anh Y N cũng không có mặt để xác định nguyện vọng của anh về việc nuôi dưỡng các con chung. Xét thấy nguyện vọng của chị H’B là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật, vì vậy căn cứ vào khỏan 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu Y Z Ayun, sinh ngày 19/10/2014 và cháu H’Z1 Ayun, sinh ngày 10/6/2016 cho chị H’B Ayun nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành (đủ18 tuổi).

Anh Y N Byă được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, anh Y N Byă không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.

-Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H’B Ayun không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

-Về yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung: Chị H’B Ayun không yêu cầu không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

. Về án phí: Chị H’B Ayun phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bôûi caùc leõ treân:

QUYEÁT ÑÒNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 220, Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014.

Áp dụng nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị H’B Ayun.

-Về quan hệ hôn nhân: Cho chị H’B Ayun được ly hôn với anh Y N Byă.

-Về con chung: Giao cháu Y Z Ayun, sinh ngày 19/10/2014 và cháu H’Z1 Ayun, sinh ngày 10/6/2016 cho chị H’B Ayun nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành (đủ18 tuổi)..

Anh Y N Byă được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên anh Y N Byă không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H’B Ayun không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

-Về yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung: Chị H’B Ayun không yêu cầu không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

-Về án phí:

Chị H’B Ayun phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo biên lai số AA/2019/0007168 ngày 07/01/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đăk Lăk.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ. *Nơi nhận:

Cỡ chữ