- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Sùng Khấy H, Ly hôn với người bị tuyên bố mất tích"
- Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Sùng Khấy H, anh Sùng Khấy H được ly hôn chị Ma Thị Ch.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17 /2020/HNGĐ-ST Ngày 18 tháng 12 năm 2020 V/v“ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M – TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Minh Yên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vinh và ông Tạ Văn Thà.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Ngọc Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Lào Cai.
Ngày 18 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Lào Cai, Tòa án nhân dân huyện M mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2020/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2020/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Sùng Khấy H; Sinh năm: 1989.
Địa chỉ: Thôn H (nay là thôn Sín Hồ), xã T, huyện M, tỉnh Lào Cai, Có mặt.
Bị đơn: Chị Ma Thị Ch; Sinh năm 1995.
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện M, tỉnh Lào Cai, vắng mặt (đã bị Tòa án tuyên bố mất tích).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện nộp ngày 05 tháng 10 năm 2020 và bản tự khai tại Tòa án nguyên đơn anh Sùng Khấy H trình bày: Anh Sùng Khấy H và chị Ma Thị Ch kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 05/4/2011 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M và cùng chung sống tại Thôn H, xã T, huyện M, tỉnh Lào Cai. Quá trình chung sống anh chị sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2013 thì chị Ch bỏ đi đến nay không có tin tức gì; anh H đã áp dụng mọi biện pháp tìm kiếm nhưng không ai biết chị Ch ở đâu, cũng không có tin tức gì của chị Ch nên đã làm thủ tục yêu cầu Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Lào Cai tuyên bố một người mất tích đối với chị Ma Thị Ch. Quyết định số 03/2020/QĐST-VDS ngày 05/6/2020, Tòa án nhân dân huyện M đã tuyên bố chị Ma Thị Ch mất tích. Nay anh Sùng Khấy H đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Ma Thị Ch.
Về con: Anh Sùng Khấy H và chị Ma Thị Ch có một con chung là cháu Sùng Thị L sinh ngày 09/10/2012. Hiện nay cháu L đang ở cùng anh H tại Thôn H, xã T, huyện M, tỉnh Lào Cai. Anh H có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu L đến đủ 18 tuổi, anh không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và khoản nợ: Anh H không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Ma Thị Ch, sinh năm 1995, nơi cư trú cuối cùng: Thôn H (nay là thôn Sín Hồ), xã T, huyện M, tỉnh Lào Cai đã bị Tòa án tuyên bố mất tích theo quyết định giải quyết việc dân sự số 03/2020/QĐST-VDS ngày 05/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Lào Cai.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn anh Sùng Khấy H khẳng định từ khi Tòa án có quyết định tuyên bố chị Ch mất tích đến nay anh có đến nhà chị Ch tìm và cũng hỏi thăm nhiều nơi nhưng không ai có tin tức gì của chị Ch. Anh giữ nguyên quan điểm yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn và nuôi con, ngoài ra không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản, nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
-Anh Sùng Khấy H khởi kiện xin ly hôn chị Ma Thị Ch – Nơi cư trú cuối cùng: Thôn H (nay là thôn Sín Hồ), xã T, huyện M, tỉnh Lào Cai. Do vậy quan hệ pháp luật của vụ án là ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện M thụ lý giải quyết theo đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền theo lãnh thổ và loại việc được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
-Tòa án đã tiến hành niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử tại nơi cư trú cuối cùng của chị Ch theo quy định của pháp luật và tiến hành xét xử vắng mặt chị Phương theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
-Về hôn nhân: Anh Sùng Khấy H và chị Ma Thị Ch kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Lào Cai theo quy định của pháp luật. Sau kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2013 chị Ch đi khỏi địa phương đến nay không có tin tức gì; Tòa án nhân dân huyện M đã giải quyết tuyên bố chị Ma Thị Ch mất tích theo quyết định giải quyết việc dân sự số 03/2020/QĐST-VDS ngày 05/6/2020. Nay anh Sùng Khấy H khởi kiện ly hôn với chị Ma Thị Ch, Hội đồng xét xử giải quyết cho ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Quan hệ hôn nhân của anh Sùng Khấy H và chị Ma Thị Ch chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
-Về con chung: Anh Sùng Khấy H và chị Ma Thị Ch có một con chung là cháu Sùng Thị Liên sinh ngày 09/10/2012. Anh H có nguyện vọng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu L đến khi cháu L đủ 18 tuổi, không yêu cầu chị Ch cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy kể từ khi chị Ch bỏ nhà đi khỏi địa phương, cháu L ở cùng anh H, do anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Văn bản ghi ý kiến cháu L cũng thể hiện cháu mong muốn được ở cùng bố. Vì vậy để cuộc sống của cháu được ổn định, cần giao cháu L cho anh H được nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của cháu Sùng Thị Liên.
-Về tài sản và khoản nợ: Anh Sùng Khấy H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn anh Sùng Khấy H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 2 Điều 56; các Điều 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Sùng Khấy H, anh Sùng Khấy H được ly hôn chị Ma Thị Ch.
2/Về con chung: Giao cháu Sùng Thị L, sinh ngày 09/10/2012 cho anh Sùng Khấy H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị Ma Thị Ch không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3/Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Sùng Khấy H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn. Xác nhận anh H đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai số AB/2012/0008104 ngày 05/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Lào Cai.
4/Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Lào Cai; -VKSND Huyện MK, VKSND tỉnh Lào Cai; -Chi cục THADS huyện M; -Các đương sự; -UBND xã T (ĐKKH số 10/2011, Q.01); -Lưu HS, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lý Thị Minh Yên |