vanban.org

Bản án 17/2020/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu xin xác định cha cho con của chị Nguyễn Thị CT. Xác định cháu Trần Minh D (tên dự định), giới tính nam, sinh ngày 28/3/2018 là con đẻ của anh Trần Văn H và chị Nguyễn Thị CT. Về án phí: Chị Nguyễn Thị CT được miễn nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Thủy Huy"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN ĐỐNG ĐA
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2020/HNGĐ-ST
Ngày 24-4-2020
V/v Xác định cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, TP. HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thúy;

Các hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Mai;

Bà Nguyễn Thị Cờ;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga- Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, TP Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, TP Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 194/2020/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2020 về việc Xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2020/QĐXX-ST ngày 26/3/2020 giữa các đương sự:

NgU đơn: Chị Nguyễn Thị CT, sinh năm 1979

Địa chỉ: Số 17, hẻm 43/99/15, tổ 38, phường TH, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1980

Địa chỉ: Số 7, ngõ VƯ, phố chợ KT, phường Trung Phụng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phùng QH, sinh năm 1966

Địa chỉ: Số 15, phố PBC, phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/3/2020 và bản tự khai ngày 12/3/2020, ngU đơn chị Nguyễn Thị CT trình bày:

Chị và anh Phùng QH kết hôn năm 2014. Quá trình chung sống chị và anh H. nảy sinh mâu thuẫn và ly thân sau khi kết hôn khoảng vài tháng. Trong thời gian chị và anh H. ly thân, chị Th có quan hệ tình cảm với anh Trần Văn H và đến ngày 28/3/2018 sinh 01 cháu trai, dự định đặt tên là Trần Minh D. Đến tháng 6/2018 chị Th gửi đơn xin ly hôn anh H., nhưng không khai với Tòa án việc chị có con riêng và anh H. cũng không biết việc này, nên theo Quyết định thuận tình ly hôn số 183 ngày 15/6/2018 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội chỉ ghi chị Th và anh H. có 01 con chung là cháu Phùng Kim U. Sau đó chị và anh H ra phường làm thủ tục khai sinh cho cháu D nhưng cán bộ phường giải thích là con trong thời kỳ hôn nhân thì cha phải là anh Phùng QH. Anh H đã đi làm giám định ADN xác định anh H và cháu D là quan hệ cha con. Vì vậy chị Th đề nghị Tòa án xác định cháu Trần Minh D sinh ngày 28/3/2018 là con đẻ của chị và anh Trần Văn H.

Bị đơn anh Trần Văn H trình bày:

Chị Nguyễn Thị CT và anh Phùng QH kết hôn năm 2014. Quá trình chung sống anh chị nảy sinh mâu thuẫn và ly thân. Trong thời gian anh H. và chị Th ly thân, anh H có quan hệ tình cảm với chị Th và đến ngày 28/3/2018 chị Th đã sinh con trai, dự định đặt tên là Trần Minh D. Ngày 15/6/2018 chị Th và anh H. ly hôn theo Quyết định thuận tình ly hôn số 183 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Do khi giải quyết ly hôn với anh H., chị Th không khai ra việc có con riêng với anh H và anh H. cũng không biết việc chị Th có con riêng nên Tòa án chỉ ghi nhận việc anh chị có 01 con chung là cháu Phùng Kim U. Nay để đảm bảo quyền lợi cho cháu D, chị Th có khởi kiện tại Tòa án đề nghị xác định cháu Trần Minh D là con đẻ của anh, anh nhất trí với ý kiến của chị Th, đề nghị Tòa án xác định cháu Trần Minh D, sinh ngày 28/3/2018 là con đẻ của anh H và chị Th.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phùng QH trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị CT kết hôn năm 2014. Quá trình chung sống anh và chị Th nảy sinh mâu thuẫn và ly thân. Trong thời gian anh và chị Th ly thân, chị Th có quan hệ tình cảm với anh Trần Văn H và sinh 01 cháu trai, định đặt tên là Trần Minh D. Đến tháng 6/2018 anh và chị Th gửi đơn xin ly hôn tại Tòa án, nhưng chị Th không khai với Tòa án việc chị có con riêng và anh cũng không biết việc này, nên theo Quyết định thuận tình ly hôn số 183 ngày 15/6/2018 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội chỉ ghi anh và chị Th có 01 con chung là cháu Phùng Kim U. Nay chị Th đề nghị Tòa án xác định cha cho con, anh khẳng định cháu D không phải là con chung của anh và chị Th nên đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa:

Bị đơn anh Trần Văn H trình bày: Anh đề nghị Tòa án xác định cháu Trần Minh D (tên dự định), sinh ngày 28/3/2018, là con chung của anh và chị Nguyễn Thị CT.

Chị Nguyễn Thị CT, anh Phùng QH có đơn đề nghị xét xử vụ án vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa: HĐXX đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật TTDS về phiên tòa sơ thẩm. Các quy định về phiên tòa, thủ tục bắt đầu phiên tòa, tranh tụng đều được HĐXX thực hiện theo đúng quy định tại Chương 14 BLTTDS.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn, người liên quan đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70,71,72, 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận yêu cầu xin xác định cháu Trần Minh D (tên dự định), giới tính nam, sinh ngày 28/3/2018 là con đẻ của chị Nguyễn Thị CT và anh Trần Văn H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu của nguyên đơn, các tài liệu chứng cứ do các bên đương sự cung cấp cùng các tài liệu Tòa án thu thập được xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình yêu cầu xác định cha cho con, bị đơn là anh Trần Văn H có hộ khẩu thường trú tại số 7, ngõ VƯ, phố chợ KT, phường Trung Phụng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Do vậy, việc Tòa án nhân dân quận Đống Đa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 4 điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị CT, người liên quan anh Phùng QH có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Căn cứ lời khai của các đương sự cho thấy chị Nguyễn Thị CT và anh Phùng QH kết hôn năm 2014, khi chưa chấm dứt hôn nhân anh chị có thời gian ly thân, chị Th đã có quan hệ tình cảm với anh Trần Văn H và sinh cháu Trần Minh D (tên dự định), giới tính nam, vào ngày 28/3/2018. Đến ngày 15/6/2018 chị Nguyễn Thị CT và anh Phùng QH mới ly hôn; theo Quyết định thuận tình ly hôn số 183 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, anh H. và chị Th chỉ có 01 con chung là cháu Phùng Kim U. Cháu Trần Minh D được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của anh H. và chị Th nhưng không phải là con chung của anh chị nên chị Nguyễn Thị CT đã đề nghị Tòa án xác định cháu Trần Minh D là con đẻ của chị và anh Trần Văn H. Căn cứ khoản 1 Điều 89 Luật hôn nhân gia đình, người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình. Trên cơ sở yêu cầu của anh H, ngày 13/3/2020, Tòa án đã có Quyết định trưng cầu giám định sinh học ADN để trưng cầu giám định mẫu phụ hệ của anh Trần Văn H và cháu Trần Minh D. Tại Kết luận giám định ADN số HT40.20/PY-XN ngày 18/3/2020 của Viện pháp y quân đội đã kết luận: Anh Trần Văn H là cha đẻ của cháu Trần Minh D (tên dự định). Anh H và chị Th đều nhất trí với kết luận giám định. Từ căn cứ trên, Hội đồng xét xử xác định cháu Trần Minh D (tên dự định), giới tính nam, sinh ngày 28/3/2018 là con đẻ của anh Trần Văn H và chị Nguyễn Thị CT.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị CT được miễn nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 89; khoản 2 Điều 101; khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân gia đình;

- Khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu xin xác định cha cho con của chị Nguyễn Thị CT. Xác định cháu Trần Minh D (tên dự định), giới tính nam, sinh ngày 28/3/2018 là con đẻ của anh Trần Văn H và chị Nguyễn Thị CT.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị CT được miễn nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Anh Trần Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị CT, anh Phùng QH có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Cỡ chữ