- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Thái H, sinh năm 1991. Bị đơn: Anh Phan Quốc T, sinh năm 1988."
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Thái H đối với anh Phan Quốc T.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2020/HNGĐ-ST Ngày: 11 - 9 - 2020 V/v Tranh chấp về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Đoàn Minh Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Ất và bà Đỗ Thị Mau.
- Thư ký phiên toà: Ông Lương Quốc Chương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến Như - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2020, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 55/2020/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2020 về việc “Tranh chấp về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Thái H, sinh năm 1991. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố 1, phường Nghĩa Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
2. Bị đơn: Anh Phan Quốc T, sinh năm 1988. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố 3, phường Nghĩa Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Đinh Thị Thái H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Thái H và anh Phan Quốc T đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 73/2019/QĐST-HNGĐ ngày 10/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa.
Về con chung: Sau khi ly hôn chị H sinh cháu Phan Gia Hg, sinh ngày 16/11/2019. Đây là con chung của chị Đinh Thị Thái H và anh Phan Quốc T. Chị Đinh Thị Thái H yêu cầu giao con chung là Phan Gia Hg, sinh ngày 16/11/2019 cho chị Đinh Thị Thái H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 (mười tám) tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đinh Thị Thái H yêu cầu anh Phan Quốc T cấp dưỡng nuôi con chung là Phan Gia Hg, sinh ngày 16/11/2019. Mức cấp dưỡng là 3.000.000 đồng/01 tháng, phương thức cấp dưỡng theo từng tháng thông qua chuyển khoản Ngân hàng cho đến khi con chung đủ 18 (mười tám) tuổi.
Bị đơn anh Phan Quốc T trình bày:
Anh Phan Quốc T hoàn toàn nhất trí và đồng ý với ý kiến trình bày của nguyên đơn về quan hệ hôn nhân, về người trực tiếp nuôi con.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Thái H và anh Phan Quốc T đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 73/2019/QĐST-HNGĐ ngày 10/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa.
Về con chung: Sau khi ly hôn chị H sinh cháu Phan Gia Hg, sinh ngày 16/11/2019. Đây là con chung của chị Đinh Thị Thái H và anh Phan Quốc T. Anh Phan Quốc T đồng ý giao con chung là Phan Gia Hg, sinh ngày 16/11/2019 cho chị Đinh Thị Thái H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 (mười tám) tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Phan Quốc T không đồng ý về mức cấp dưỡng nuôi con chung mà chị H đưa ra vì: Hiện nay thu nhập của anh T là 4.810.000 đồng/tháng, anh T đang nợ ngân hàng C - Chi nhánh Đắk Nông số tiền 700.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng hạn mức ngày 27/8/2019; thời hạn hiệu lực hợp đồng kể từ ngày 27/8/2019 đến ngày 27/8/2024; Hàng năm anh T phải đi đáo hạn ngân hàng 01 lần; vay để trả số tiền sau: Trả 180.000.000 đồng cho chị H; trả tiền vay ngân hàng V 483.000.000 đồng và số còn lại trả các khoản nợ khác. Do đó, lương hàng tháng của anh T phải tích cóp để trả cho ngân hàng. Anh Phan Quốc T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Phan Gia Hg, sinh ngày 16/11/2019 với mức cấp dưỡng là 800.000 đồng/tháng.
Chị Đinh Thị Thái H không đồng ý với mức cấp dưỡng mà anh T đưa ra vì:
+ Chi phí nuôi dưỡng cháu Phan Gia Hg hàng tháng như sau: Bỉm: 1.460.000đ/tháng; Sữa: 1.200.000đ/tháng; Ăn hàng ngày: 600.000đ/tháng; Ăn dặm/ thức ăn bổ sung dinh dưỡng: 1.350.000đ/tháng; Quần áo: 500.000đ/tháng; Gửi trẻ: 2.000.000đ/tháng. Tổng: 7.110.000đ/tháng.
Ngoài ra chi phí tiêm vắc xin dịch vụ: Hiện tại chị H đã chi gần 7.000.000đ tiền tiêm vacxin cho cháu; dự kiến chi phí tiêm vắc xin cho cháu khoảng 18 đến 20 triệu đồng.
Vì vậy, mức cấp dưỡng 800.000đ/tháng mà anh T đưa ra không thể cho cháu Phan Gia Hg một cuộc sống bình thường như những đứa trẻ khác.
+ Mức lương theo Hợp đồng lao động số 03/2019 ký ngày 01/07/2019 của anh Phan Quốc T và Quỹ B tỉnh Đăk Nông là 7.400.000đ/tháng, không phải mức 4.810.000đ đồng/tháng như anh Phan Quốc T đã khai.
+ Theo như Vi bằng ghi nhận về việc phân chia tài sản chung vợ chồng và giao nhận nghĩa vụ trả nợ ngày 11/6/2019 thì anh T trả chị H 180.000.000 đồng để chị H chuyển nhượng toàn bộ diện tích thửa đất số 74, tờ bản đồ số 76, diện tích 775,8m2, tại thôn 6, xã Đắk H, huyện Đắk G, tỉnh Đắk Nông cho anh T toàn quyền sử dụng và anh T trả nợ số tiền 483.000.000 đồng cho Ngân hàng V Đắk Nông để anh T toàn quyền sử dụng ngôi nhà tại thửa đất số A24, tờ bản đồ độc lập, diện tích 245,4m2, tại tổ dân phố 4, phường Nghĩa Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Về việc anh T đang nợ Ngân hàng C– Chi nhánh Đăk Nông số tiền 700.000.000 đồng để đầu tư trồng trọt: Đây là khoản vay để anh T đầu tư sinh lời không phải là để trả các khoản nợ, không thể lấy đó làm lý do để nói là anh T không có khả năng cấp dưỡng. Bên cạnh đó, anh T có tài sản là 3 miếng đất và 1 căn nhà trên đất. Vì vậy, nếu anh T thật sự muốn cấp dưỡng cho cháu Phan Gia Hg, anh T hoàn toàn có thể chủ động được tài chính của bản thân mình.
Vì những lý do trên, chị H cho rằng anh T hoàn toàn có đủ khả năng cấp dưỡng và anh T lấy lý do lương thấp, vay nợ để đưa ra mức cấp dưỡng là 800.000đ/tháng là không hợp lý. Chị H đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật để chị H có tiền nuôi cháu Phan Gia Hg.
Ý kiến của Kiểm sát viên:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm mở phiên tòa đều tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng.
Việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các điều 58, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Thái H.
- Giao con chung Phan Gia Hg, sinh ngày 16/11/2019 cho chị Đinh Thị Thái H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 (mười tám) tuổi.
Việc cấp dưỡng nuôi con: Anh Phan Quốc T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với mức 1.500.000 đồng/01 tháng; phương thức cấp dưỡng hàng tháng, cấp dưỡng vào ngày cuối cùng của mỗi tháng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông nhận định:
. Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Các đương sự đều cư trú tại thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về con chung và cấp dưỡng nuôi con. Theo quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án “Tranh chấp về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Thái H và anh Phan Quốc T đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 73/2019/QĐST-HNGĐ ngày 10/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa.
. Về con chung: Chị Đinh Thị Thái H và anh Phan Quốc T thống nhất thỏa thuận giao con chung Phan Gia Hg, sinh ngày 16/11/2019 cho chị Đinh Thị Thái H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 (mười tám) tuổi. Do đó cần ghi nhận sự thỏa thuận của chị H và anh T về người trực tiếp nuôi con.
. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung là Phan Gia Hg. Mức cấp dưỡng là 3.000.000 đồng/01 tháng, phương thức cấp dưỡng theo từng tháng thông qua chuyển khoản ngân hàng cho đến khi con chung đủ 18 (mười tám) tuổi. Anh T chỉ đồng ý cấp dưỡng nuôi con với mức 800.000 đồng/01 tháng, cấp dưỡng hàng tháng vào ngày cuối cùng của mỗi tháng.
Tại Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân gia đình quy định:
“ Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”...
“Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần…; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”.
Hiện nay anh T đang công tác tại Quỹ B tỉnh Đăk Nông với mức thu nhập của anh T là 4.810.000 đồng/tháng. Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo nhu cầu thiết yếu của con chung Phan Gia Hg nên cần buộc anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với mức 1.500.000 đồng/01 tháng là phù hợp. Phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng, cấp dưỡng vào ngày cuối cùng của mỗi tháng là hợp lý nên cần chấp nhận và cần ấn định thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tại phiên tòa, là có căn cứ chấp nhận.
. Về án phí: Chị Đinh Thị Thái H phải nộp tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh Phan Quốc T phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 58, 81, 82, 83, 84, 85, 107, 110, 116, 117, 119 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Thái H đối với anh Phan Quốc T.
Về con chung: Giao con chung là Phan Gia Hg, sinh ngày 16/11/2019 cho chị Đinh Thị Thái H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 (mười tám) tuổi.
Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau khi ly hôn: Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 và 85 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Phan Quốc T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là Phan Gia Hg mỗi tháng 1.500.000 đồng, cấp dưỡng định kỳ hàng tháng, thực hiện việc cấp dưỡng vào ngày cuối cùng của mỗi tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 (mười tám) tuổi.
Việc thay đổi nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung được quy định tại Điều 107, Điều 110, Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình.
2. Về án phí: Chị Đinh Thị Thái H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0003475 ngày 11/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Anh Phan Quốc T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - VKSND thành phố Gia Nghĩa; - Chi cục THADS thành phố G; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Mai Đoàn Minh Hương |