- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tâm-chinh"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí T, buộc ông Nguyễn Trường C và bà Dương Thị T phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Chí T số tiền 171.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ K TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2020/DS-ST Ngày: 14 - 7 - 2020 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ K, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Diệu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Ngọc Anh.
2. Ông Đào Văn Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Long An.
Ngày 14 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 244/2019/TLDS-ST ngày 30 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2020/QĐXXDS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Chí T, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Ấp C, xã T, thị xã K, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Trường C, sinh năm 1966 và bà Dương Thị T, sinh năm 1973.
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, thị xã K, tỉnh Long An.
Ông T có mặt; ông C và bà T vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của ông Nguyễn Chí T, các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Ông Nguyễn Chí T trình bày: Ông Nguyễn Trường C và bà Dương Thị T là vợ chồng. Ông T là người làm thuê cho ông C và bà T. Do đó, vào ngày 12 tháng 01 năm 2016, ông C và bà T nhờ ông đem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông đứng tên thế chấp tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – chi nhánh thị xã K (viết tắt là Ngân hàng) vay số tiền 500.000.000 đồng để làm ăn. Khi ông giao số tiền 500.000.000 đồng cho ông C và bà T thì bà T viết, ký biên nhận nợ. Từ ngày vay đến ngày 23 tháng 10 năm 2019, ông C và bà T đã trả cho Ngân hàng được nợ gốc 336.600.000 đồng rồi ngưng luôn cho đến nay. Sau đó, nợ đến hạn nên ông đã trả cho Ngân hàng số nợ gốc còn lại 163.400.000 đồng và tiền lãi suất 8.164.900 đồng. Mục đích ông C và bà T vay tiền để làm ăn trong gia đình. Khi đó ông C và bà T không cầm cố, thế chấp tài sản gì cho ông. Nay ông khởi kiện yêu cầu ông C và bà T phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả lại cho ông số tiền vay gốc 163.400.000 đồng và lãi suất với số tiền 8.164.900 đồng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần ra thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và đã tống đạt hợp lệ đối với ông C và bà T nhưng ông C và bà T không đến tham dự các phiên hòa giải theo quy định pháp luật. Đồng thời, ông C và bà T cũng không gửi văn bản nêu ý kiến về việc ông T khởi kiện yêu cầu ông C và bà T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo yêu cầu khởi kiện của ông C. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Quan hệ pháp luật tranh chấp là hợp đồng vay tài sản, trong đó bị đơn là ông C và bà T có địa chỉ tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã K theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của ông C và bà T tại phiên tòa: Ông C và bà T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, nhưng ông C và bà T vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông C và bà T là phù hợp theo các Điều 177, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu khởi kiện của ông T khởi kiện yêu cầu ông C và bà T phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả cho ông T số tiền vay gốc, lãi tổng cộng 171.564.900 đồng là có chứng cứ chứng minh thể hiện qua giấy biên nhận ngày 28 tháng 10 năm 2018 do bà T ký nhận nợ. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, buộc ông C và bà T phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả cho ông T số tiền gốc, lãi tổng cộng 171.564.900 đồng là có căn cứ phù hợp với các 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; các Điều 27, 30, 37 của Luật hôn nhân gia đình.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của ông T được chấp nhận toàn bộ nên theo quy định tại các Điều 3, 6, 24, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông C và bà T phải có nghĩa vụ liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền 171.564.900 đồng nộp sung ngân sách nhà nước. Ông T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 177, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; các Điều 27, 30, 37 của Luật hôn nhân gia đình; các Điều 3, 6, 12, 24, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí T, buộc ông Nguyễn Trường C và bà Dương Thị T phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Chí T số tiền 171.564.900 đồng (một trăm bảy mươi mốt triệu năm trăm sáu mươi bốn nghìn chín trăm đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi bên phải thi hành án thi hành xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2. Về án phí:
2.1 Án phí của vụ án là 8.578.000 đồng (tám triệu năm trăm bảy mươi tám nghìn đồng). Buộc ông Nguyễn Trường C và bà Dương Thị T phải có nghĩa vụ liên đới chịu 8.578.000 đồng (tám triệu năm trăm bảy mươi tám nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
2.2 Về tạm ứng án phí: Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Chí T 4.130.000 đồng (bốn triệu một trăm ba mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0007402 ngày 30 tháng 12 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã K.
3. Án xử công khai sơ thẩm có mặt đương sự, báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND thị xã K; - Chi cục THADS thị xã K; - TAND tỉnh Long An; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Kim Diệu |