- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17 /2020/DS-ST Ngày: 20 -05-2020 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Đông Cúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hữu Phúc.
2. Bà Nguyễn Thị Ánh Gương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Ngân, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tuyết Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 05 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32 /2020/TLST-DS ngày 13 tháng 01 năm 2020, về việc:“ Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2020/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 03 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2020/QĐST-DS ngày 29 tháng 04 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH một thành viên quốc tế V.
Người đại diện theo pháp luật: ông Y – chức vụ: Tổng giám đốc – JIVF.
Địa chỉ: phường N, quận X, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: anh Võ Thanh Q, sinh năm: 1990.
Địa chỉ: ấp M, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
Tạm trú: Khóm V, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn:
1. Anh Nguyễn Minh T, sinh năm: 1981
2. Chị Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm: 1984.
Cùng địa chỉ: ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Có mặt đại diện Ngân hàng anh Q, vắng mặt anh T, chị K lần thứ 2 không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 16/12/2019 và các buổi hòa giải, nguyên đơn Công ty tài chính TNHH một thành viên quốc tế V có đại diện theo ủy quyền anh Võ Thanh Q trình bày:
Ngày 21/10/2016 Công ty tài chính quốc tế V có cho anh T, chị K vay số tiền vốn 230.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất vay 0,958%/tháng, hình thức vay trả góp theo tháng, mục đích vay mua xe ô tô, số tiền thanh toán mỗi tháng 5.057.837 đồng theo hợp đồng tín dụng đã ký kết số 830040000000026000 ngày 21/10/2016, trong thời gian vay chị K, anh T có ký kết hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai (động sản) số 83004/0002-HĐTC ngày 21/10/2016 chiếc xe ô tô CHEVROLET SPARK số khung: RLLMF75DJGH938707, số máy: B12D1Z2162116HLSX0269, biển kiểm soát: 66D-001.17. Từ khi vay tiền chị K, anh T có trả được số tiền tổng cộng là 126.457.511 đồng (trong đó: nợ gốc là 79.285.328 đồng, lãi trong hạn 47.160.719, lãi quá hạn 11.464 đồng), số tiền còn lại anh T, chị K không thực hiện nghĩa vụ, tính đến ngày 27/12/2019 là 171.364.379 đồng (trong đó: nợ gốc: 150.714.672 đồng, lãi trong hạn 19.252.395 đồng, lãi quá hạn: 1.397.312 đồng). Nay anh Q là người đại diện theo ủy quyền của Công ty tài chính quốc tế V yêu cầu anh T, chị K cùng có trách nhiệm trả số nợ nêu trên, Công ty tài chính quốc tế V không yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày 27/12/2019 đến nay.
Tại các buổi hòa giải và phiên tòa hôm nay Công ty tài chính quốc tế V không yêu cầu Tòa án xem xét hợp đồng thế chấp tài sản số 83004/0002-HĐTC ngày 21/10/2016 giữa Công ty với anh T, chị K. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.
- Bị đơn anh Nguyễn Minh T, chị Nguyễn Thị Thúy K được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do tại các phiên hòa giải và phiên tòa hôm nay, đến nay không có văn bản ý kiến nộp (gửi) Tòa án.
Ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ theo trình tự thủ tục quy định của pháp luật. Riêng bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không tham dự phiên tòa nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 227, Điều 228 BLTTDS. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Công ty tài chính quốc tế V. Buộc anh T, chị K có trách nhiệm trả cho Công ty tài chính quốc tế V tổng số tiền gốc và lãi là 171.364.379 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện ủy quyền nguyên đơn khẳng định đã xuất trình đầy đủ các chứng cứ cho Tòa án xem xét và không cung cấp chứng cứ gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để trình bày ý kiến, hòa giải nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt không lý do đã được triệu tập hợp lệ hai lần theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Công ty tài chính quốc tế V khởi kiện yêu cầu anh T, chị K thanh toán số tiền đã vay còn nợ. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền: Công ty tài chính quốc tế V khởi kiện anh T, chị K có địa chỉ tại ấp T, xã P, huyện T. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nguyên đơn khởi kiện bị đơn tại Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp là phù hợp quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về số tiền nợ gốc: Ngày 21/10/2016 Công ty tài chính quốc tế V có cho anh T, chị K vay số tiền gốc 230.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất vay 0,958%/tháng, hình thức vay trả góp theo tháng, mục đích vay mua xe ô tô, số tiền thanh toán mỗi tháng 5.057.837 đồng theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết số 830040000000026000 ngày 21/10/2016. Sau khi vay anh T, chị K có trả gốc đến ngày 24/12/2018 với số tiền 79.285.328 đồng, số tiền gốc còn lại đến nay anh T, chị K không trả cho Công ty theo đúng định kỳ trả gốc theo thỏa thuận. Xét thấy tại hợp đồng tín dụng nêu trên hai bên có thỏa thuận về thời hạn thanh toán, số tiển mỗi kỳ phải thanh toán nhưng đến nay anh T, chị K không trả gốc theo thỏa thuận là vi phạm thời hạn trả gốc theo hợp đồng. Do đó buộc anh T, chị K tiếp tục trả số tiền gốc còn lại nêu trên cho Công ty tài chính là có căn cứ.
- Về số tiền nợ lãi: Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng anh T, chị K có thực hiện nghĩa vụ trả lãi đến ngày 24/12/2018, từ đó đến nay anh T, chị K không thanh toán tiền lãi cho Công ty tính đến ngày 27/12/2019 số tiền lãi trong hạn là 19.252.395 đồng, lãi quá hạn: 1.397.312 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy tại hợp đồng tín dụng nêu trên giữa nguyên đơn và bị đơn thì hai bên có thỏa thuận về lãi suất và thời hạn trả lãi, tuy nhiên đến thời hạn trả lãi theo thỏa thuận mà bị đơn không thực hiện nghĩa vụ là vi phạm thỏa thuận theo hợp đồng, vì vậy buộc anh Tấn, chị Kiều trả số tiền lãi phát sinh nêu trên cho Công ty tài chính quốc tế V là phù hợp.
Xét thấy anh T, chị K đã được Tòa án thông báo về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị K cũng không nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đến nay anh T, chị K cũng không có ý kiến để phản đối yêu cầu khởi kiện về số tiền nợ gốc và tiền lãi còn nợ đối với nguyên đơn. Mặt khác, sự thỏa thuận của hai bên tại hợp đồng tín dụng nêu trên là tự nguyện và không trái quy định pháp luật nên căn cứ Điều 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ: Tại các buổi hòa giải và phiên tòa hôm nay đại diện Công ty tài chính quốc tế V có ý kiến không yêu cầu Tòa xử lý hợp đồng thế chấp. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét Hợp đồng thế chấp tài sản giữa Công ty tài chính quốc tế V đối với anh anh T, chị K chung trong vụ kiện này.
Phiên tòa hôm nay Công ty tài chính quốc tế V không yêu cầu anh T, chị K tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 27/12/2019 đến nay, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát phù hợp với nội dung và diễn biến của vụ án nên có cơ sở chấp nhận.
Từ những phân tích nêu trên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn. Buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền gốc và lãi còn nợ là 171.364.379 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu của Công ty tài chính tế V được chấp nhận nên anh T, chị K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 8.568.000 đồng. Công ty tài chính tế V được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 91, 98 Luật các tổ chức tín dụng;
- Điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH một thành viên quốc tế V đối với anh Nguyễn Minh T và chị Nguyễn Thị Thúy K.
2. Buộc anh Nguyễn Minh T và chị Nguyễn Thị Thúy K có trách nhiệm liên đới trả cho Công ty tài chính TNHH một thành viên quốc tế V số tiền nợ gốc là 150.714.672 đồng, lãi 19.252.395 đồng, lãi quá hạn: 1.397.312 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 171.364.379 đồng theo hợp đồng tín dụng đã ký kết số hợp đồng tín dụng số 830040000000026000 ngày 21/10/2016.
3. Về án phí sơ thẩm:
- Anh Nguyễn Minh T và chị Nguyễn Thị Thúy K phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 8.568.000 đồng ( Tám triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn đồng).
- Hoàn lại cho Công ty tài chính TNHH một thành viên quốc tế V toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: BH/2018/00005824 ngày 09 tháng 01 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Đối với bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND T. Đồng Tháp; - VKSND huyện Tam Nông; - Chi cục THADS huyện Tam Nông; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Thị Đông Cúc |