vanban.org

Bản án 17/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng hợp tác

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Buộc Công ty cổ phần L phải trả bà Nguyễn Thị Hải N số tiền 498.

Về án phí: Công ty cổ phần L phải chịu 23.938.400 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng hợp tác — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng hợp tác bán hàng"
  • Tòa quyết gì? Buộc Công ty cổ phần L phải trả bà Nguyễn Thị Hải N số tiền 498.
  • Căn cứ chính? Điều 16 Nghị định số 42/2014/NĐ-CP Về quản lý hoạt động bán hàng đa…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TØNH B¾C GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2020/DS-ST
Ngày 18 tháng 5 năm 2020
V/V: "Tranh chấp hợp đồng hợp tác bán hàng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Giang

Các hổi thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư, bà Nguyễn Thị Vượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Bà Đặng Minh Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18/5/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 190/2019/TLST-DS ngày 04/12/2019 về “Tranh chấp về hợp đồng hợp tác bán hàng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2020/QĐXXST - DS ngày 16/3/2020, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 259/TB-TA ngày 01/4/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2020/QĐST-DS ngày 28/4/2020 giữa:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hải N – sinh năm 1954

Địa chỉ: Số 08, H, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

(Do ông Hà Chu Đ – sinh năm 1954, ở cùng địa chỉ đại diện theo ủy quyền. Ông Đ có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Bị đơn: Công ty Cổ phần L.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn C – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Địa chỉ trụ sở: N24, khu D, đường H, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Trương Thị T, sinh năm 1987; chức vụ: Kế toán của Công ty L thị trường Thanh Hóa.

Địa chỉ: Số nhà 01/08 đường L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

(Có đơn xin vắng mặt)

2. Chị Lê Thị L, sinh năm 1988; chức vụ: Thủ kho của Công ty L thị trường Thanh Hóa.

(Có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hải N trình bày:

Ngày 13/10/2014, bà tham gia ký kết hợp đồng hợp tác bán hàng số 00058239/HĐ-LMTD với Công ty cổ phần L. Địa điểm ký hợp đồng: tầng 9, tòa nhà Dầu Khí, thành phố T, Chi nhánh của Công ty cổ phần liên minh tiêu dùng tại thị trường Thanh Hóa. Bà được Chủ tịch Nguyễn Văn C và người của Công ty giới thiệu nhiều chương trình tri ân hấp dẫn. Do tin tưởng, bà đã nhiều lần nộp tiền vào công ty để mua sản phầm thực phẩm chức năng chăm sóc sức khỏe, ngoài ra còn được hưởng các quyền lợi như tri ân của chương trình:

- Lần 1, bà tham gia chương trình 7 có tên nối vòng tay lớn, giá mỗi gói sản phẩm của chương trình là 8.450.000 đồng, cụ thể: ngày 17/12/2014, bà nộp tiền mua 14 gói sản phẩm với tổng số tiền là 14 x 8.450.000 đồng = 118.300.000 đồng; được Công ty giao cho 14 hóa đơn kiêm phiếu xuất kho, các hóa đơn ghi rõ số tiền nộp và đơn giá gói hàng. Mỗi gói sản phẩm được tri ân số tiền 333.680.000 đồng + 1 xe máy SH.

- Lần 2: bà tham gia chương trình 9 có tên “Vượt vũ môn” giá mỗi gói sản phẩm của chương trình là 11.880.000 đồng. Cụ thể: ngày 18/01/2016 bà nộp tiền mua 32 gói sản phẩm với tổng số tiền là: 32 gói x 11.880.000 đồng = 380.160.000 đồng; được Công ty giao lại cho 32 hóa đơn kiêm phiếu xuất kho, trong mỗi hóa đơn sản phẩm ghi rõ số tiền đơn giá gói hàng. Mỗi gói sản phẩm được tri ân số tiền 56.800.000 đồng.

Các mặt hàng bà mua là cao hồng sâm, dầu cá, thải độc ruột gan....Kể từ ngày nộp tiền mua các sản phẩm trên, bà chưa lấy gói sản phẩm nào cũng chưa được nhận bất cứ tri ân nào. Khoảng tháng 6 năm 2016, đại diện của Công ty nói với các cộng tác viên: để tránh sự kiểm tra của Cục quản lý cạnh tranh Bộ công thương, Cục Thuế, Cơ quan Công an, đề nghị các Cộng tác viên nộp lại toàn bộ số hóa đơn kiêm phiếu xuất kho chưa nhận hàng. Để hợp pháp hóa, Công ty đã làm sẵn các tờ đơn tự nguyện gửi hàng hóa đưa cho các cộng tác viên, coi như các cộng tác viên đã nhận đủ hàng hóa rồi gửi lại công ty – tương đương số hàng mà các cộng tác viên chưa nhận. Do tin tưởng, bà đã nộp lại toàn bộ 46 hóa đơn kiêm phiếu xuất kho, nhận lại 02 phiếu đề nghị tự nguyện gửi hàng hóa. Trong 02 phiếu đề nghị tự nguyện gửi hàng hóa có chữ ký của cô Trương Thị T – Kế toán và cô Lê Thị L – Thủ kho. Cô L sau khi kiểm tra hóa đơn thì ghi rõ ở góc tờ phiếu gửi hàng giá của mỗi gói hàng là 8.450.000 đồng hoặc 11.880.000 đồng (giá của 1 gói hàng bà đã nộp tiền mua). Cô L bảo bà lấy ngày ghi trên hóa đơn để điền vào ngày của đơn đề nghị tự nguyện gửi hàng hóa.

Sau thời gian đó, bà đã rất nhiều lần đến Chi nhánh Công ty cổ phần L tại thị trường Thanh Hóa yêu cầu họ trả hàng và trả tri ân nhưng người của công ty đều khất lần hết lần này đến lần khác, nói trên Công ty chưa chuyển về. Hiện tại, Công ty còn nợ bà 46 gói hàng tương đương với số tiền 498.460.000 đồng. Ngày 07/11/2016, Công ty CP Liên minh tiêu dùng bị rút giấy phép kinh doanh bán hàng đa cấp do vi phạm Nghi định 42 của Bộ công thương và bị xử phạt 409 triệu đồng cộng với hàng ngàn đơn thư khiếu kiện của các cộng tác viên trên 54 thị trường. Nay, bà yêu cầu Công ty cổ phần L phải trả ông số tiền 498.460.000 đồng tương đương với 46 gói hàng đã mua.

Tại Bản tự khai ngày 01/3/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Lê Thị L trình bày: Tháng 8 năm 2013, chị có làm việc tại Công ty cổ phần L, chi nhánh tại Thanh Hóa. Địa chỉ của chi nhánh lúc đầu ở tại số nhà 33, đường V, phường Đ, thành phố T. khoảng cuối năm 2013, đầu năm 2014 thì chi nhánh chuyển sang địa chỉ tại số 21, đường C, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Địa chỉ cuối cùng là số 38A, đại lộ L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Khi chị được tuyển vào làm việc tại chi nhánh tại Thanh Hóa, giữa chị và Công ty không ký hợp đồng lao động. Vị trí làm việc của chị là thủ kho, công việc chính là nhập hàng về và xuất hàng cho khách căn cứ vào hóa đơn của Công ty mà khách hàng xuất trình. Khoảng năm 2016 (không nhớ thời gian cụ thể), Tổng Công ty gửi biểu mẫu là Đơn đề nghị tự nguyện xin gửi hàng hóa về chi nhánh và chỉ đạo chị và bộ phận kế toán thu toàn bộ các hóa đơn mà Công ty đã cấp cho khách hàng rồi cấp cho khách hàng đơn đề nghị tự nguyện gửi hàng hóa. Về nội dung đơn tự nguyện gửi hàng hóa: khách hàng tự điền họ tên số điện thoại địa chỉ, số gói sản phẩm đã mua ở thị trường Thanh Hóa, tên sản phẩm và ký vào mục người viết đơn. Thực chất, không có việc khách hàng đem gửi hàng vào kho và chị cũng không nhận số hàng hóa của các khách hàng như nội dung thể hiện trong đơ đề nghị ký gửi hàng hóa. Sau đó, Chi nhánh chuyển toàn bộ hóa đơn thu lại của khách hàng về công ty, chi nhánh không giữ lại bất kỳ hóa đơn mua hàng nào của khách hàng.

Đến tháng 10/2016, chị nghỉ làm tại chi nhánh ở Thanh Hóa, mọi công việc chị bàn giao lại cho nguồi của chi nhánh. Chị là người dân tộc Thổ nhưng chị từ chối quyền trợ giúp pháp lý. Chị đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hải N theo quy định của pháp luật. Chị không không có ý kiến gì về các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, không yêu cầu Tòa án triệu tập người làm chứng cũng như người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án, không có ý kiến cũng như yêu cầu gì khác, xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

Tại bản tự khai ngày 01/2/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Trương Thị T trình bày: Chị từng có thời gian làm việc tại Chi nhánh Thanh Hóa của Công ty cổ phần L; giữa chị và Công ty không có hợp đồng lao động, công việc chính của chị là nhân viên trả hàng. Chị không biết bà Nguyễn Thị Hải N có ký hợp đồng gì với Công ty cổ phần L không, không biết bà N có nộp tiền vào Chi nhánh Thanh Hóa không, nộp cho ai và bao nhiêu. Việc Công ty đã trả bà N bao nhiêu đơn hàng, còn nợ bao nhiêu đơn hàng thì chị không nhớ vì đã nghỉ làm ở Công ty cổ phần L từ rất lâu. Do bận đi làm và nuôi con nhỏ, chị xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại Biên bản xác minh ngày 04/12/2019, đại diện phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang cung cấp như sau: Công ty cổ phần L vẫn đăng ký trụ sở tại địa chỉ N24, khu D, đường H, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Công ty không có hoạt động sản xuất kinh doanh gì và không còn treo biển hiệu tại địa chỉ trên, không có nhân viên để nhận văn bản, hiện công ty khác đã thuê lại để đặt trụ sở.

Tòa án đã niêm yết Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải....nhưng đại diện của Công ty cổ phần Linh minh tiêu dùng Việt Nam không đến Tòa án làm việc và cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì.

+ Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có thu thập tài liệu chứng cứ từ các vụ án khác do Cục Quản lý cạnh tranh nay là Cục cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng- Bộ Công thương cung cấp cho Tòa án tài liệu liên quan đến Công ty cổ phần L, bao gồm:

- Bản sao hồ sơ cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp của Công ty.

- Bản sao hồ sơ sửa đổi, bổ sung giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp của Công ty.

- Bản sao Quyết định số 252/QĐ-QLCT ngày 03/10/2016 của Cục Quản lý cạnh tranh về việc xử lý vụ việc cạnh tranh đối với Công ty. Trong Quyết định có nội dung: Công ty Cổ phần L không làm thủ tục sửa đổi, bổ sung Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp khi có thay đổi, bổ sung liên quan đến Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 10, Nghị định 42/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp; Công ty đã thực hiện hành vi ký Hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp không bao gồm đầy đủ thông tin theo quy định của pháp luật, vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 24 Nghị định 42/2014/NĐ-CP; Công ty đã thực hiện hành vi ký Hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với cá nhân không đủ điều kiện tham gia bán hàng đa cấp theo quy định của pháp luật, vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 19- Nghị định 42/2014/NĐ-CP; Công ty đã thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ đào tạo cơ bản đối với người tham gia bán hàng đa cấp theo quy định của pháp luật vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 20- Nghị định 42/2014/NĐ-CP; Công ty đã thực hiện hành vi duy trì nhiều hơn một vị trí kinh doanh đa cấp, hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp, mã số kinh doanh đa cấp hoặc các hình thức khác tương đương đối với một người tham gia bán hàng đa cấp, vi phạm quy định tại điểm p khoản 1 Điều 5 Nghị định 42/2014/NĐ-CP. Công ty đã vi phạm các quy định của Nghị định 42 về bán hàng đa cấp và quá trình hoạt động bán hàng đa cấp, Công ty đã có nhiều sai phạm nên Cục quản lý cạnh tranh, Bộ Công thương đã ra Quyết định xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh đối với Công ty. Ngoài hình thức phạt tiền, Cục quản lý cạnh tranh còn áp dụng hình phạt bổ sung và biện pháp khắc phục là “Áp dụng hình thức xử phạt bổ sung Thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 36 Nghị định 71/2014/NĐ-CP”, Công ty cổ phần L không còn tư cách về mặt chủ thể để tham gia bán hàng đa cấp.

Ngày 28/4/2020, Tòa án mở phiên tòa nhưng do đại diện theo pháp luật của bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa hôm nay: Đại diện theo pháp luật của bị đơn tiếp tục vắng mặt không lý do. Địa diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Hà Chu Đ; chị Trương Thị T; chị Lê Thị L xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án. Nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Đại diện theo pháp luật của bị đơn, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của bà Nguyễn Thị Hải N, buộc Công ty cổ phần L phải trả cho bà N số tiền 498.460.000 đồng.

Về án phí: Công ty cổ phần L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

- Kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Đại diện theo pháp luật của bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngày 13/10/2014, Công ty cổ phần L và bà Nguyễn Thị Hải N đã ký Hợp đồng hợp tác bán hàng số 00058239/HĐ-LMTD. Căn cứ hợp đồng trên, bà N có nộp tiền mua hàng của Công ty cổ phần L nhưng đến nay chưa được giao đủ số hàng đã mua. Bà N đã đòi nhiều lần nhưng Công ty chưa trả. Các bên không tự giải quyết được tranh chấp nên bà N khởi kiện ra Tòa án. Quan hệ tranh chấp giữa bà N với Công ty cổ phần L là quan hệ dân sự giữa cá nhân không có giấy phép đăng ký kinh doanh với pháp nhân có giấy phép đăng ký kinh doanh về bán hàng đa cấp. Đây là “Tranh chấp về hợp đồng dân sự (cụ thể là tranh chấp hợp đồng hợp tác bán hàng”. Tòa án nhân dân thành phố B thụ lý giải quyết yêu cầu của bà N là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hải N về việc buộc Công ty cổ phần L phải trả số tiền 498.460.000 đồng (giá trị 46 gói hàng đã mua):

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do bà Nguyễn Thị Hải N cung cấp, lời trình bày của chị Lê Thị L và Trương Thị T, có căn cứ xác định: Bà N có ký Hợp đồng hợp tác bán hàng số 00058239/HĐ-LMTD ngày 13/10/2014 với Công ty cổ phần L,trong thời gian Công ty được phép hoạt động bán hàng đa cấp. Bà N đã nộp tiền vào Công ty để mua 46 gói sản phẩm, cụ thể:

- Ngày 17/12/2014, bà nộp 118.300.000 đồng để mua 14 gói sản phẩm Cao hồng sâm với giá 8.450.000 đồng/1 sản phẩm.

- Ngày 18/01/2016, bà nộp 380.160.000 đồng để mua 32 hóa gói sản phẩm Cao hồng sâm với giá 11.880.000 đồng/1 sản phẩm.

Đến nay, Công ty cổ phần L chưa trả bà N 46 gói sản phẩm đã mua.

. Ngày 03/10/2016, cục quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương có Quyết định về việc xử lý vụ việc cạnh tranh số 252/QĐ-QLCT đối với Công ty cổ phần L. Tại Quyết định trên thì Công ty cổ phần L đã bị áp dụng hình phạt bổ sung và biện pháp khắc phục là thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 36 Nghị định 71/2014/NĐ-CP.

. Bà N yêu cầu Công ty cổ phần L phải trả số 498.460.000 đồng tương đương giá trị của 46 gói hàng đã nộp tiền mua nhưng chưa được Công ty trả hàng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 16 Nghị định 42/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp và điểm c khoản 2 Điều 9 Thông tư số 24/2014/TT-BCT ngày 30/07/2014 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định 42/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp. Do vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu trên của bà N.

Về án phí: Yêu cầu của bà N được chấp nhận nên Công ty cổ phần L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 274, Điều 275, Điều 280 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 16 của Nghị định 42/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp;

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 244, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử:

1. Buộc Công ty cổ phần L phải trả bà Nguyễn Thị Hải N số tiền 498.460.000 đồng.

2. Về án phí: Công ty cổ phần L phải chịu 23.938.400 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ