vanban.org

Bản án 17/2020/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 27/02/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/02/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyên đơn: 1. Ông Lê Văn H"
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Dân sự; Điều 256 Bộ luật Dân sự; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2020/DS-PT
Ngày: 27-02-2020
V/v “Tranh chấp quyền sở hữu nhà,
quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tự

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Tiến

Ông

- Thư ký phiên tòa: Bà

, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông

, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 11/2019/TLPT-DS ngày 04/12/2019 về “Tranh chấp quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 27/2019/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định bị kháng cáo.

Giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

1. Ông Lê Văn H

Địa chỉ: Tổ 43, khu vực 6, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

Địa chỉ liên lạc:

Q.

2. Ông Lê Văn S

3. Ông Lê Văn N

4. Bà Lê Thị Kim X

Cùng địa chỉ: TDP 6, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai

5. Bà Lê Thị H; địa chỉ: Đồng Nai

Đại diện theo uỷ quyền của ông S, ông N, bà X, H: Ông Lê Văn H.

- Bị đơn: Ông Lê Văn M và bà Kha Thị Đ;

Cùng địa chỉ: Tổ 43, khu vực 6, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lê Văn T

2. Bà Nguyễn Thị T

Cùng địa chỉ:, tỉnh Đồng Nai.

3. Bà Phạm Thị Kim S;

Địa chỉ: Tổ dân phố 6, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai

4. Ông Nguyễn Thanh L

5. Bà Trần Thị H

Cùng địa chỉ:, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

6. Ông Lê Hoài S

Địa chỉ: thành phố Q, tỉnh Bình Định.

7. Ủy ban nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định.

: Ông Lê Văn H, ông Lê Văn M

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn trình bày:

Cụ Lê C (chết năm 1975) và cụ Nguyễn Thị L (chết ngày 17/4/2014) sinh thời có 06 người con: Lê Văn M, Lê Văn H, Lê Văn S, Lê Văn T, Lê Thị H và Lê Văn T1. Ông T1 (chết tháng 01/2013) có vợ là Phạm Thị Kim S và có hai con là chung với bà S là Lê Văn N và Lê Thị Kim X.

Cụ L sinh sống tại tổ 43, khu vực 5, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định từ năm 1966; có hộ khẩu thường trú số 1769. Thửa đất số 07 tờ bản đồ số 22 tọa lạc tại địa chỉ nói trên do Cụ L khai hoang, xây dựng nhà ở và quản lý, sử dụng từ năm 1975, Cụ L là người đăng ký kê khai trong sổ mục kê tại địa phương năm 1996, đứng tên chủ sử dụng đất trên hồ sơ kỹ thuật thửa đất lập ngày 06/10/1997. Diện tích đất ban đầu của Cụ L là 40,42m2, Cụ L bỏ tiền ra xây dựng nhà gắn liền với đất Sau khi làm nhà xong, Cụ L đưa các con là Lê Văn M, Lê Văn H, Lê Văn S, Lê Văn T1, Lê Văn T và Lê Thị H về đây sinh sống. Năm 1980, ông M đi làm ở Đắc Lắc; năm 1982, ông Lê Văn M lên Gia Lai lập nghiệp; năm 1988, ông M đưa vợ con về sống cùng với Cụ L. Trong quá trình sử dụng đất, Cụ L đã đóng thuế đất từ năm 1992 đến năm 1999. Sau đó vợ chồng ông M, bà Kha Thị Đ mua thêm một phần đất và vợ chồng ông M bỏ tiền ra xây phần mái tole và nhà bếp trên phần đất mua thêm. Do nhà dột nát, hư hỏng nến khoảng năm 2002 ông S cùng các thợ bạn sửa lại toàn bộ nhà cho Cụ L, nhưng không lấy tiền công vì là chỗ mẹ con. Năm 2006, ông M kê khai thêm diện tích đất là 50,22m2. Năm 2010, Cụ L làm hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với thửa đất nói trên thì bị ông M tranh chấp. Hiện nay vợ chồng ông M, bà Đ đang quản lý, sử dụng nhà và đất nói trên.

Trước đây cụ Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu được sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với thửa đất số 7, tờ bản đồ số 22 tọa lạc tại tổ 43, khu vực 6, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Sau khi Cụ L qua đời những người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của Cụ L là ông Lê Văn H, ông Lê Văn S, ông Lê Văn N, bà Lê Thị H, bà Lê Thị Kim X thống nhất tiếp tục khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận nhà và đất nói trên thuộc quyền sở hữu của Cụ L. Không ai yêu cầu chia thừa kế đối với khối tài sản này.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 19/4/2017 vợ chồng ông M, bà Đ được y ban nhân dân (UBND) thành phố Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CG 02483. Nay ông Lê Văn H, ông Lê Văn S, ông Lê Văn N, bà Lê Thị H, bà Lê Thị Kim X thống nhất yêu cầu Tòa án hủy GCNQSDĐ nói trên vì cho rằng UBND thành phố Q cấp GCNQSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho vợ chồng ông M, bà Đ là trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các nguyên đơn.

Ông Lê Văn H trình bày thêm: Ngày 26/02/2011, tại Văn phòng Luật sư T Cụ L đã lập chúc thư cho ông toàn bộ tài sản là nhà, đất nói trên nên tài sản này là của ông. Các ông, bà: S, N, H, X thống nhất về việc Cụ L cho ông số tài sản này. Nay ông yêu cầu được nhận nhà, đất với diện tích là 40,42m2. Đối với diện tích đất vợ chồng ông M, bà Đ mua thêm của vợ chồng ông Nguyễn Thanh L và bà Trần Thị H và phần xây dựng trên đất ông xin nhận và giao lại cho vợ chồng ông M giá trị đất theo giá thị trường. Tại phiên tòa, các nguyên đơn thống nhất về phần giá trị vật liệu xây dựng theo giá trị của lần đinh giá trước là 44.267.593đ (vì lần định giá ngày 12/3/2019 gia đình ông M không cho Hội đồng định giá vào nhà thị thực nôn không thể tính toán giá trị của phần xây dựng).

Bị đơn trình bày:

Cha ông M là cụ Lê C và mẹ là cụ Nguyễn Thị L sinh sống từ năm 1965 tại tổ 44, KV6, phường L, t

. Đến năm 1975 cha ông mất tích, cuộc sống khó khăn nên ông lên Gia Lai làm ăn đến năm 1977 về lại Q thì biết mẹ ông đã bán nhà và đất tại tổ 44, KV6, phường L, t

, lúc đó không còn nhà để ở nên ông được ông S (khóm trưởng khóm H) chỉ cho nền đất bị bỏ hoang tại tổ 43, KV6, phường L, t

để ở. Năm 2010 Cụ L tự ý đến UBND phường L, t

làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hai bên đã xảy ra tranh chấp. Bản án số: 85/2016/DSST ngày 28/7/2016 của Tòa án nhân dân t

và bản án số: 87/2016/DSPT ngày 27/10/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định đã thể hiện rõ vụ việc. Vợ chồng ông bà không đồng ý nhà, đất là của Cụ L và Nhà nước đã cấp GCNQSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thừa đất số 7, tờ bản đồ số 22, tọa lạc tại tổ 43, KV6, phường L, t

cho vợ chồng ông bà là đúng pháp luật. Vợ chồng ông bà không đồng ý với chúc thư của Cụ L, đề nghị Tòa án làm rõ về chúc thư của Cụ L để lại.

Trước đây vợ chồng ông bà có thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hũư nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 7, tờ bản đồ số 22, tọa lạc tại tổ 43, KV6, phường L, t

để vay tiền của Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam, nhưng hiện nay hai bên đã tất toán xong nợ nần, không còn liên quan gì nữa và vợ chồng ông bà cũng đã lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất về nên không yêu cầu giải quyết về vấn đề này.

Nay các nguyên đơn yêu cầu tòa án công nhận sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 7, tờ bản đồ số 22, tọa lạc tại tổ 43, KV6, phường L, t

là của Cụ L đã cho ông Lê Văn H theo chúc thư ngày 26/02/2011; yêu cầu hủy GCNQSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CG 02483, s vào sổ cấp GCN số: CH00888 ngày 19/4/2017 mà Nhà nước đã cấp cho vợ chồng ông bà thì vợ chồng ông bà không đồng ý.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị T thống nhất trình bày:

Vợ chồng ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị T rút lại sự ủy quyền mà trước đây đã ủy quyền cho ông Lê Văn M. Trong vụ án vợ chồng ông bà không tranh chấp tài sản và cũng không yêu cầu gì, đề nghị Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xét xử theo đúng pháp luật. Vì lý do bận nhiều công việc nên vợ chồng ông bà xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại các phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Kim S trình bày:

Bà là vợ của ông Lê Văn T1, Ông T1 là con của ông Lê C (chết) và bà Nguyễn Thị L (chết). Bà S thống nhất như trình bày của ông Lê Văn H về nguồn gốc nhà và đất tại tổ 43, khu vực 6, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L, bà S yêu cầu Tòa án giải quyết theo pháp luật. Ngoài ra, bà S không yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật của bà L.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh L và bà Trần Thị H trình bày:

Khoảng năm 1999-2000 (không nhớ chính xác thời gian) vợ chồng ông bà có bán cho vợ chồng ông Lê Văn M, bà Kha Thị Đ một diện tích đất ăkhoảng 9,5m2 trong khuôn viên vợ chồng ông bà giáp với vách sau nhà bếp của ông M với giá tiền là 200.000đ, khi bán miếng đất này hai bên chỉ giao dịch thỏa thuận bàng miệng chứ không có giấy tờ gì. Nay gia đình ông M tranh chấp với nhau, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Vợ chồng ông bà xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết và xét xử vụ án vì ông bà thường xuyên đau ốm nên không tiện đến Tòa, ông bà trình bày xin vắng mặt như vậy nhưng không có văn bản kèm theo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hoài S trình bày:

Vào ngày 26/02/2011, cụ Nguyễn Thị L có đến Văn phòng luật sư T yêu cầu Luật sư xác nhận chúc thư. Cụ L có trình các thủ tục gồm: Chứng minh nhân dân của Cụ L; Chứng minh nhân dân của ông Lê Văn H; sổ hộ khẩu số: 1769; sơ đồ kỹ thuật thửa đất số hiệu thửa đất: 07 tờ bản đồ số 22, tọa lạc tại tổ 43, KV6, phường L, t

, mục đích sử dụng đất ở đứng tên chủ sử dụng là cụ Nguyễn Thị L. Đối tượng Cụ L lập chúc, thư là có thật. Thời điểm Cụ L lập chúc thư có đủ năng lực hành vi dân sự phù hợp theo quy định của pháp luật. Mục đích, nội dung chúc thư không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, Cụ L không bị nhầm lẫn không bị ép. buộc và trong trạng thái tinh thần minh mẫn sáng suốt yêu cầu Luật sư Lê Hoài S xác nhận chúc thư trước sự chứng kiến của ông Trần Ngọc Châu, Cụ L đã ký tên và điểm chỉ vào chúc thư nên Văn phòng luật sư T đã xác nhận việc này.

Đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định, ông Ngô Tôn Thanh trình bày:

Ngày 10/7/2017 ông Lê Văn M có đơn xin đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất gửi UBND thành phố Q đối với thửa đất số 7, tờ bản đồ số 22, địa chỉ tổ 43, KV6, phường L, thành phố Q, Bình Định. Hồ sơ được UBND thành phố Q căn cứ trên cơ sở UBND

L xác nhận nguồn gốc đất và được Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Q thẩm định đất có nhà ở đang sử dụng do cụ Nguyễn Thị L tạo lập trên đất hoàng từ năm 1975 đất không có giấy tờ, Cụ L chết năm 2014. Ông Lê Văn M và bà Kha Thị Đ được trọn quyền sở hữu và sử dụng đất theo hai bản án số 85/2016/DSST ngày 28/7/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Q và bản án số 87/2016/DSPT ngày 27/10/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định. Vợ chồng ông M đã hoàn tất các thủ tục theo quy định nên được UBND thành phố Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: CG 024831 số vào sổ cấp GCN: CH00888 ngày 19/4/2017.

UBND thành phố Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho vợ chồng ông M, bà Đ là đúng pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 27/2019/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định đã quyết định:

Căn cứ khoản 4 Điều 34, khoản 1 Điều 41 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; các Điều 164, 169, 255, 256, 688 của Bộ luật dân sự 2005; Luật đất đai năm 2003; Luật đất đai năm 2013; Điều 6, điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27, khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hộì.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

1. Xác định quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích 40,42m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CG 024831 số vào sổ cấp GCN: CH00888 ngày 19/4/2017 của y ban nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định cấp cho ông Lê Vãn Minh, bà Kha Thị Đ là của cụ Nguyễn Thị L. Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích đất còn lại là của vợ chồng ông Lê Văn M và bà Kha Thị Đ.

2. Công nhận chúc thư của cụ Nguyễn Thị L do Văn Phòng Luật sư T xác nhận ngày 26/02/2011 là hợp pháp và có hiệu lực pháp luật. Xác định ông Lê Văn H được quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích 40,42m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CG 024831 số vào sổ cấp GCN: CH00888 ngày 19/4/2017 của y ban nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định cấp cho ông Lê Văn M, bà Kha Thị Đ theo chúc thư của cụ Nguyễn Thị L.

3. Bác yêu cầu của ông Lê Văn H yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CG 024831 số vào sổ cấp GCN: CH00888 ngày 19/4/2017 của y ban nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định cấp cho ông Lê Vãn Minh, bà Kha Thị Đ.

4. Giao cho Vợ chồng ông Lê Văn M, bà Kha Thị Đ được quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CG 024831 số vào sổ cấp GCN: CH00888 ngày 19/4/2017 của ủy ban nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định sau khi vợ chồng ông Lê Văn M, bà Kha Thị Đ đã thanh toán đầy đủ cho ông Lê Văn H s tiền 1.095.187.593đ giá trị quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích nhà, đất 40,42m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nói trên.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần chi phí thẩm định giá và định giá, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

03/9/2019, ông Lê Văn H

đơn kháng cáo Tòa án

.

ông Lê Văn M

đơn kháng cáo phúc thẩm

.

ông Lê Văn H

ẩm

-

thửa đất số 07 tờ bản đồ s 22, tọa lạc tại tổ 43, KV6, phường L, thành phố Q,

40,42m2

Long.

- Công nhận chúc thư của cụ Nguyễn Thị L

Văn Phòng Luật sư T ngày 26/02/2011 là hợp pháp.

-

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CG 024831 số vào sổ cấp GCN: CH00888 ngày 19/4/2017 của y ban nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định cấp cho ông Lê Vãn Minh, bà Kha Thị Đ.

-

pháp luật

Viện kiể

ông Lê Văn M

Tòa án

kháng cáo

Lê Văn M.

kháng cáo

Lê Văn H,

ông M

ông M

ông M

nghĩa vụ

ông H

kháng cáo

Lê Văn H,

.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

nguồn gốc thửa đất số 07 tờ bản đồ s 22, tọa lạc tại tổ 43, KV6, phường L, thành phố Q,

: T biên bản xác minh ngày 17/6/2015 tại UBND phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định (BL số 536) thể hiện: Cụ L sinh sống tại tổ 43, khu vực 6, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định từ năm 1966, có đăng ký hộ khẩu thường trú số 1769; thửa đất số 7, tờ bản đồ số 22 tọa lạc tại địa chỉ nói trên do Cụ L khai hoang, xây dựng nhà ở, đất ở từ năm 1975, quản lý sử dụng từ năm 1975; Cụ L là người đăng ký kê khai trong sổ mục kê tại địa phương năm 1996, đứng tên chủ sử dụng đất trên hồ sơ kỹ thuật thửa đất lập ngày 06/10/1997.

Nội dung xác minh trên phù hợp với sổ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu số 1769 (

539 đến 548); giấy chứng nhận hộ khẩu thường trú số 1769 CN (

470); hồ sơ kỹ thuật thửa đất số 07, tờ bản đồ số 22 tại tổ 43, khu vực 6, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định ngày 06/10/1997 (

535); sổ mục kê (

534) và Công văn số 344/VPĐK-CV ngày 19/4/2012 của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Q (

124).

, ngày 13/7/2011 Chi cục thuế thành phố Q có văn bản xác nhận Cụ L đã tiến hành nghĩa vụ kê khai và nộp thuế thửa đất có diện tích 48m2 từ năm 1992 đến năm 1999; từ năm 2000 ông M nộp thuế diện tích 48m2, từ năm 2006 trở đi ông M kê khai nộp thuế diện tích 52 m2 (

43).

Vợ chồng ông M, bà Đ khai rằng nguồn gốc đất do được ông S (Trưởng khóm H) chỉ cho miếng đất hoang để ở nhưng ông M, bà Đ không c chứng cứ chứng minh.

ông M

ông M

thửa đất đang tranh chấp

của cụ Nguyễn Thị L là có căn cứ, phù hợp với các chứng cứ nêu trên.

Về

nhà ở, thấy rằng: Theo Công văn số 344/VPĐK-CV ngày 19/4/2012 của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Q, nhà đất

UBND phường L xác định xây dựng năm 1975, trùng thời gian bà L đăng ký hộ kh u năm 1976

nên có cơ sở xác định thời đi m xây nhà trong khoảng thời gian 1975-1976.

thời gian này ông M xác nhận đang đi làm ở Gia Lai từ năm 1975 đến 1977. Do đó,

xác định Cụ L là chủ sở hữu nhà ở nói trên

.

: Ngày 03/8/2018, Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định thụ lý giải quyết

lại vụ án theo Q

-

Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà N ng. Ngày 29/8/2018, ông Lê Văn H có đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

ông M, bà Đ. Ngày 13/9/2018 Tòa án nhân dân thành phố Q ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định để giải quyết theo thẩm quyền. Trước đây cụ Nguyễn Thị L là nguyên đơn, sau khi Cụ L chết vào năm 2014, các con của Cụ L là Lê Văn H, Lê Văn S, Lê Văn N, Lê Thị Kim X, Lê Thị H là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Cụ L

1 Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

k

: “Tranh chấp quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất”. Sau khi ông Lê Văn H bổ sung yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm

“Tranh chấp quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”

quy định tại Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

ông H

giấ

ận quyền sử dụng đất

k Long

Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự

Tòa án khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án đang giải quyết. Tuy nhiên, c đương sự

quyền, nghĩa vụ

không

quyền

k

k

;

,

đương sự không

quyền

.

công nhận chúc thư của Cụ L là h p pháp, xác định ông Lê Văn H được quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở của Cụ L

giao cho ông M, bà Đ được quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà trên,

ông M, bà Đ có nghĩa vụ thanh toán lại cho ông Lê Văn H giá trị nhà, đất theo giá thị trường

.

k

Điều

Bộ luật Tố tụng dân sự

đương sự.

k

nguyên đơn –

,

quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở thửa đất số 7, tờ bản đồ s 22, tại tổ 43, khu vực 6, phường L, thành phố Q

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CG 024831 ngày 19/4/2017 đứng tên ông M, bà Đ

ông M, bà Đ

ng

pháp luật,

không

k

kháng cáo

Lê Văn H

,

kháng cáo

Lê Văn M;

.

Do kháng cáo

nên ông H không

Ông Lê Văn M

án phí dân sự

.

Căn cứ:

- Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 74, Điều 34,

3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 255, 256 Bộ luật Dân sự 2005;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

.

kháng cáo

Lê Văn M;

ông Lê Văn H;

số 27/2019/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

1.

quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích 40,42m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CG 024831, số vào sổ cấp GCN: CH 00888 ngày 19/4/2017 do y ban nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định cấp

ông Lê Văn M, bà Kha Thị Đ là của cụ Nguyễn Thị L.

2. Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích đất còn lại 9,8m2 là của vợ chồng ông Lê Văn M, bà Kha Thị Đ.

3. Tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CG 024831, số vào sổ cấp GCN: CH 00888 ngày 19/4/2017 do y ban nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định cấp,

ông Lê Văn M, bà Kha Thị Đ.

4. Giao cho ông Lê Văn M, bà Kha Thị Đ

quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

với diện tích nhà, đất 40,42m2 nói trên.

5.

Bà Kha Thị Đ phải chịu 150.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Lê Văn M

án phí dân sự sơ

m.

Hoàn trả cho ông Lê Văn H (đại diện cụ Nguyễn Thị L) 8.500.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 01364 ngày 29 tháng năm 2011 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành ph Q

300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003503 ngày 8 tháng10 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q.

6. n phí dân sự

:

Ông Lê Văn M

án phí dân sự

.

Ông Lê Văn H không

án phí dân sự

Lê Văn H tiền tạm ứng án phí đã nộp

theo biên lai số 0003703 ngày 09/9/2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Định.

7. Chi phí tố tụng khác:

Ông Lê Văn M

Kha Thị Đ có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Lê Văn H 4.000.000 đ

phí định giá và xem xét, thẩm định tại chỗ.

Cỡ chữ