vanban.org

Bản án 17/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Lăk, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 11/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Phạm Công Th phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Xử phạt: Phạm Công Th 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam: 14/6/2019. Trả lại cho ông Phạm Công Tôn và bà Nguyễn Thị Uyên 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38K1 – 397327, màu sơn Vàng – Đen, nhãn hiệu WINNER – HONDA, số máy KC26E1099628, số khung 2603GY062944. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Công Thành chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Phạm Công Th phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẮK
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2019/HS-ST
Ngày 11-10-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Hưng;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Chiu;

Ông Nguyễn Văn Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bách – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 9 năm 2019, đối với bị cáo:

Phạm Công Th; sinh ngày: 16/08/1997 tại huyện A, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: thôn Ph, xã K, huyện A, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Công T và bà Nguyễn Thị U; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt, tạm giam ngày 14/6/2019; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1, Anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1999; địa chỉ: Số nhà 487/1 đường Nguyễn Văn C, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.

2, Anh Đặng Văn T, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ dân phố 1, thị trấn K, huyện Kr, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.

3, Bà Nguyễn Thị U, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn Ph, xã K, huyện A, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

4, Ông Phạm Công T, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn Ph, xã K, huyện A, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 2003; địa chỉ: Thôn Ph, xã K, huyện A, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

+ Ông Trần Văn D, sinh năm 1967; địa chỉ: Buôn P, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk (đồng thời là người chứng kiến); có đơn vắng mặt.

+ Anh Lê Văn Nam, sinh năm 1978; địa chỉ: Số nhà 414 đường H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có đơn vắng mặt.

+ Anh Mông Phạm Thái B, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ dân phố 6, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.

+ Anh Đỗ Tiến A, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ dân phố 6A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có đơn vắng mặt.

+ Anh Bùi Văn Q, sinh năm 1974; địa chỉ: Số nhà 04 đường T, phường Th, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có đơn vắng mặt.

+ Anh Võ Thanh Ch, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ dân phố 6, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có đơn vắng mặt.

+ Anh Y Phan H, sinh năm 1985; địa chỉ: Số nhà 161/14 đường H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện kế hoạch tuần tra, kiểm soát giữ gìn trật tự, an toàn giao thông của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đắk Lắk, khoảng 12 giờ 58’ ngày 14/6/2019, tại đoạn Km 1749+700 QL14, tổ tuần tra giao thông phát hiện Phạm Công Th điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38K1-397.27 chở Nguyễn Văn T từ hướng Gia Lai sang với vận tốc là 82/60km/h; đến đoạn Km 1756+300 QL14, khi còn cách chốt kiểm tra khoảng 80 m thì đồng chí Y Phan H - cán bộ Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đắk Lắk, ra tín hiệu yêu cầu Th dừng và đưa xe vào lề đường để xử lý do vi phạm tốc độ trước đó. Th không chấp hành hiệu lệnh, điều khiển xe mô tô đi bám theo phía sau một chiếc xe ô tô tải đang đi cùng chiều để né tránh tầm kiểm soát của tổ tuần tra rồi tăng tốc, lách qua chiếc xe ô tô tải, chạy vượt qua chốt kiểm tra về hướng Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Thấy vậy, đồng chí Y Phan H liền điều khiển xe mô tô đặc chủng của Cảnh sát giao thông đuổi theo nhưng không kịp. Sau đó, Tổ tuần tra giao thông đã gửi hình ảnh xe mô tô biển kiểm soát 38K1-397.27 và người điều khiển phương tiện vi phạm lên mạng Zalo để thông báo cho các lực lượng tuần tra giao thông Công an tỉnh Đắk Lắk trên các tuyến đường biết để dừng phương tiện vi phạm. Khi đến Tp. Buôn Ma Thuột, Th rẽ sang quốc lộ 27 để đi Lâm Đồng.

Đến khoảng 15 giờ 53’ cùng ngày, tại Km 62+300 QL27, Th tiếp tục bị tổ tuần tra giao thông đo tốc độ và ghi hình xe mô tô do Th điều khiển với tốc độ là 67/60km/h. Đến Km65 + 20 QL27, tổ tuần tra giao thông Công an tỉnh Đắk Lắk gồm Mông Phạm Thái B, Nguyễn Đức H, Đặng Văn T tổ chức thi hành lệnh dừng xe để xử lý đối với Th.

Khi Th điều khiển xe mô tô đến cách vị trí đồng chí B đang đứng khoảng 60-70 m, thì đồng chí B sử dụng còi, gậy chỉ huy giao thông ra hiệu lệnh dừng và đưa xe vào lề đường bên phải nhưng Th đang ngoảnh về phía sau; khi còn cách vị trí đồng chí B đang đứng khoảng 20-30m, thì Th phát hiện tổ tuần tra giao thông đang ra hiệu lệnh yêu cầu dừng xe thì Th liền trả số, giảm tốc độ xuống khoảng 20 km/h và điều khiển xe đi về phía tổ tuần tra giao thông. Khi còn cách vị trí đồng chí B đang đứng khoảng 2-3 m, Th dồn số, tăng tốc độ cho xe mô tô chạy lách sang bên phải theo hướng đi để tránh và vượt qua đồng chí B đang đứng ở giữa đường. Sau khi đã lách, tránh và vượt qua đồng chí B được khoảng 5 m thì Th bị đồng chí H giơ tay phải chặn xe Th, Th liền cho xe lách sang bên trái để tiếp tục vượt qua đồng chí H nhưng tay lái phía bên phải của Th đã va chạm và mắc vào ống tay áo phải của đồng chí H nên đồng chí H đã bị kéo ngã xuống mặt đường và bất tỉnh; còn xe mô tô của Th bị loạng choạng, mất lái và lao đến vị trí của đồng chí T đang đứng ở sát lề đường bên phải, cách đó khoảng 3-5m; mặc dù đồng chí T nhảy lên tránh nhưng vẫn bị xe mô tô của Th va chạm vào người của đồng chí T; sau đó cả người (Th, T) và xe bị đổ ngã xuống mặt đường nhựa. Lúc này, Th bị người dân và thành viên tổ tuần tra giao thông giữ lại và báo cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lắk đến làm việc. Còn đồng chí H được anh Trần Văn D đưa vào quán nước để sơ cứu vết thương và đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện Lắk điều trị.

Quá trình điều tra các anh H, T và T xác định chỉ bị thương tích trầy xước nhẹ ảnh hưởng không đáng kể đến sức khỏe của mình nên đã từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý trách nhiệm trách nhiệm hình sự. Phạm Công Th đã nhờ gia đình tự nguyện bồi thường chi phí điều trị thương tích cho Nguyễn Đức H với số tiền 2.000.000 đồng; nay anh H và anh T không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Điều tra thu giữ các vật chứng gồm: 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38K1 – 397327, màu sơn Vàng – Đen, nhãn hiệu WINNER – HONDA, số máy KC26E1099628, số khung 2603GY062944; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 020836, biển kiểm soát 38K1 – 397327; 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số 420173004375; 01 chứng minh nhân dân số 184175561, đều mang tên Phạm Công Th; 01 chiếc áo khoác có đặc điểm: loại áo khoác gió hai lớp, lớp bên ngoài màu đỏ, tay áo và phần hông áo có sọc đen, lớp bên trong có dạng lưới màu đen, phần tay áo bên phải có nhiều vết chà xước, sờn rách và dính tạp chất màu nâu; 01 bộ quần áo trang phục xuân hè của lực lượng cảnh sát giao thông gồm: 01 chiếc quần dài màu vàng, phần ống quần bên phải có dính nhiều tạp chất màu nâu đỏ rải rác từ trên lưng quần xuống dưới ống quần, phần ống quần chân phải có một số vết màu nâu đỏ (nghi là máu) và có hai vết rách hình chữ V có kích thước 1.7 cm và 2.6 cm; phần hông và đùi bên trái quần có dính nhiều tạp chất màu nâu đỏ (nghi là máu), có kích thước (8 x10) cm và có nhiều vết chà xước, rách nhỏ, có 02 vết rách lớn có kích thước (09 x 11) cm và (17x11)cm; 01 chiếc áo sơ mi ngắn tay màu vàng, trên tay áo bên trái có gắng phù hiệu của lực lượng Cảnh sát giao thông, áo còn nguyên vẹn, phần lưng phía sau bên trái có vết màu nâu.

Tại Cáo trạng số: 18/CT-VKS ngày 30/8/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Phạm Công Th về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại Khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Phạm Công Th khai nhận: Ngày 14/6/2019, Th điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38K1-397.27 chở người cháu họ Nguyễn Văn Tuyễn từ Gia Lai sang Lầm Đồng tìm việc làm. Đến đoạn Km 1756+300 quốc lộ 14, Th bị Cảnh sát giao thông yêu cầu dừng xe nhưng do không mang theo giấy tờ đăng ký, bằng lái xe… Th đã chạy thoát được chốt kiểm tra giao thông; đến đoạn km 65 quốc lộ 27, khi Th tiếp tục bị Cảnh sát giao thông đang đứng giữa đường, ra hiệu lệnh dừng xe. Do sợ bị xử lý về hành vi trước đó đã vi phạm giao thông và bỏ chạy, hơn nữa Th không mang giấy tờ xe nên Th tiếp tục tìm cách bỏ chạy. Trong khi lách tránh đã làm xe của bị cáo va chạm với các đồng chí Cảng sát giao thông đang ngăn chặn bị cáo; sau va chạm, bị cáo và T cùng bị ngã theo và bị cáo bị bắt tạm giam đến nay.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk giữ nguyên quyết định truy tố Phạm Công Th như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Công Th phạm tội “Chống người thi hành công vụ”; áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến đối đáp, tranh luận với lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức thấp nhất mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Lắk, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do cơ quan Điều tra Công an huyện Lắk lập hồi 17 giờ ngày 14/6/2019 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:

Do ý thức coi thường pháp luật, trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, vào khoảng 16 giờ ngày 14/6/2019, Phạm Công Th điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38K1-397.27 vi phạm tốc độ tối đa cho phép. Khi tổ tuần tra giao thông Công an tỉnh Đắk Lắk đang làm nhiệm vụ trên đoạn đường tại Km 65 QL27 ra hiệu lệnh dừng xe thì Th đã không chấp hành hiệu lệnh, dùng thủ đoạn tăng tốc độ xe mô tô, lách qua tầm kiểm soát của các chiến sĩ Cảnh sát giao thông để bỏ chạy. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình nhưng chỉ vì muốn trốn tránh trách nhiệm khi vi phạm giao thông mà bị cáo đã dùng thủ đoạn nguy hiểm bằng cách đột ngột tăng vận tốc xe mô tô, chạy thoát sự kiểm soát của lực lượng Cảnh sát giao thông đang thực thi công vụ. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Chống người thi hành công vụ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự như sau:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn giao thông, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, làm cản trở người thi hành công vụ, gây mất trật tự, trị an và an toàn xã hội nên cần phải cách ly bị cáo một thời gian phù hợp, đủ để trừng trị, cải tạo bị cáo đồng thời đủ sức răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội đối với loại tội phạm này.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng: Sau khi phạm tội, bị cáo đã tích cực tác động người thân bồi thường thiệt hại đến sức khỏe của người thi hành công vụ; lần phạm tội này là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo đã tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông nội là ông Phạm Văn B được tặng thưởng “Huy chương kháng chiến hạng nhất” theo Quyết định số 88 – KT/CT ngày 15/12/1997 của Chủ tịch nước nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra xác định, mặc dù Phạm Công Th là người đứng tên trên giấy đăng ký xe mô tô nhưng số tiền bỏ ra để mua chiếc xe mô tô trên là của ông Phạm Công Tôn và bà Nguyễn Thị U (bố mẹ của Th) để giao cho Th quản lý sử dụng. Việc bị can Phạm Công Th sử dụng chiếc xe mô tô trên vào việc thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ, ông T, bà U không biết nên cần trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông Phạm Công T và bà Nguyễn Thị U là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với 01 bộ quần áo trang phục xuân hè của lực lượng Cảnh sát giao thông, anh Đặng Văn T không có yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về phần trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, gia đình bị cáo Phạm Công Th đã tự nguyện bồi thường chi phí điều trị thương tích cho anh Nguyễn Đức H số tiền 2.000.000 đồng, anh H không yêu cầu bồi thường thêm; anh Đặng Văn T cũng không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đề cập giải quyết.

Bị cáo Phạm Công Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Phạm Công Th phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

2. Căn cứ Điều 38, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Phạm Công Th 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam: 14/6/2019.

3. Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại cho ông Phạm Công Tôn và bà Nguyễn Thị Uyên 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38K1 – 397327, màu sơn Vàng – Đen, nhãn hiệu WINNER – HONDA, số máy KC26E1099628, số khung 2603GY062944.

Trả lại cho Phạm Công Th: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 020836, biển kiểm soát 38K1 – 397327; 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số 420173004375; 01 chứng minh nhân dân số 184175561, đều mang tên Phạm Công Th và 01 chiếc áo khoác.

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ quần áo trang phục xuân hè của lực lượng Cảnh sát giao thông.

(Đặc điểm vật chứng theo mô tả tại “Biên bản giao nhận vật chứng” lập tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lắk ngày 03/9/2019)

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14:

Buộc bị cáo Phạm Công Th phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ