- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN VĂN Đ - TRẦN VĂN Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Trần Văn Đ’ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2019/HS-ST. Ngày: 29-3-2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO.
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1, Ông Vũ Xuân Thụ – Cán bộ hưu trí.
2, Bà Phạm Thị Thùy Dung – Chuyên viên Phòng tư pháp huyện Ea H’Leo.
-Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Công Đức – Thư ký Tòa án.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên toà: Ông Trịnh Văn Hai – Kiểm sát viên.
Ngày 29/3/2019 tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2019/TLST-HS ngày 06/3/2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2019/QĐXXST-HS ngày 18/3/2019 đối với bị cáo:
1, Họ và tên: Nguyễn Văn Đ; sinh năm 1973; tại: Tỉnh Ninh Bình; nơi đăng ký NKTT và nơi cư trú: Làng Thong A, thị trấn Nh, huyện Ch, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 5/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1946 (đã chết) và bà Bùi Thị H, sinh năm 1950; có vợ Nguyễn Thị L, sinh năm 1979; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19/3/2013 bị Tòa án Quân sự khu vực 2 – Quân khu 5 xử phạt 6.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, ngày 17/5/2015 chấp hành xong hình phạt. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/11/2018, bị cáo có mặt tại phiên toà.
2, Họ và tên: Trần Văn Đ’; sinh năm 1985; tại: Tỉnh Ninh Bình; nơi đăng ký NKTT và nơi cư trú: Làng Thung, xã I, huyện Ch, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N (đã chết) và bà Hoàng Thị H, sinh năm 1960; có vợ Phạm Thị Y, sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/11/2018, bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người làm chứng: Anh Võ Thế Ng, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Thôn 2, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lúc 15 giờ 45 phút ngày 26/11/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo phối hợp với Công an xã C tuần tra thì phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Văn Đ và Trần Văn Đ’ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ là 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất màu trắng. Đ và Đ’ khai nhận, chất màu trắng thu giữ là ma túy. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện E lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong tang vật.
Trong quá trình điều tra Nguyễn Văn Đ và Trần Văn Đ’ khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 26/11/2018, khi Đ’ đang ở nhà của Đ thì Đ rủ Đ’ góp tiền mua ma túy về sử dụng chung thì Đ’ đồng ý, Đ đưa cho Đ’ 200.000 đồng và Đ’ bỏ thêm 200.000 đồng rồi cả hai bắt xe ô tô khách đi qua huyện E, tỉnh Đăk Lăk để mua ma túy về sử dụng, khi xe ô tô khách đến km 92 thuộc xã R, huyện E thì Đ và Đ’ xuống xe rồi bắt xe ôm đi vào thôn 5, xã C gặp một người đàn ông (không rõ nhân than lai lịch) hỏi mua 400.000 đồng tiền ma túy thì người đàn ông này đồng ý và đưa cho Đ và Đ’ 01 gói ma túy. Sau khi mua được ma túy, đến 15 giờ 30 phút cùng ngày Đ và Đ’ đón xe về lại tỉnh Gia Lai thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện E phát hiện bắt quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 1066/GĐMT-PC09 ngày 30/11/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất màu trắng đựng trong gói giấy bạc được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,2488 gam, loại ma túy là Heroine. Mẫu hoàn lại sau giám định là 0,1981 gam.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS, ngày 04/3/2019 truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Trần Văn Đ’ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ mức án từ 18 đến 24 tháng tù.
Bị cáo Trần Văn Đ’ mức án từ 15 đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 0,1981 gam Heroine còn lại sau giám định.
Các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đã biết được việc làm của các bị cáo là sai trái, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xử cho các bị cáo mức án thấp nhất để các bị cáo sớm trở về làm người công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện E, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện E, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung: Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 26/11/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện E phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Văn Đ và Trần Văn Đ’ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tang vật thu giữ là 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất màu trắng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện E lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong tang vật.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực để nhận thức và biết rõ chất ma túy là chất kích thích gây nghiện mà nhà nước độc quyền quản lý, mọi hành vi xâm hại đều phải bị trừng trị nghiêm khắc, thế nhưng do ý thức coi thường pháp luật, muốn có ma túy để sử dụng cho bản thân nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Tại kết luận giám định số 1066/GĐMT-PC09 ngày 30/11/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất màu trắng đựng trong gói giấy bạc được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,2488 gam, loại ma túy là Heroine. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện E truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Trần Văn Đ’ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần chấp nhận. Tại Điều luật này quy định như sau:
. Người nào tàng tr trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán,vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, th bị phạt t t 01 năm đến 05 năm.
...
c, Heroine, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng t 0,1 gam đến dưới 05 gam...”
Hành vi của các bị cáo mang tính nguy hiểm cho xã hội, đây cũng là một trong những nguyên nhân gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội khác mà tệ nạn ma túy trong thời gian gần đây đang có chiều hướng gia tăng. Vì vậy, cần áp dụng đối với các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, nhằm trừng trị, đồng thời cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người có ý thức chấp hành pháp luật. Ngoài ra, còn có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều tham gia thực hiện tội phạm với vai trò thực hành, bị cáo Đ là người có nhân thân xấu lại là người rủ rê nên cần xử phạt bị cáo Đ mức án cao hơn bị cáo Đ’.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét, giảm nh cho các bị cáo một phần trách nhiệm hình sự để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Vì xét thấy, sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà Hội đồng xét xử cần cân nhắc, xem xét.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Văn Đ và Trần Văn Đ’, không xác định được nhân thân lai lịch, nên không có căn cứ để xử lý.
. Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 0,1981 gam Heroine còn lại sau giám định.
. Về án phí: Cần buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
V các l trên:
QUYẾT ĐỊNH:
-Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Trần Văn Đ’ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/11/2018.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Đ’ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/11/2018.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,1981 gam Heroine còn lại sau giám định.
Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Trần Văn Đ’ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - Viện KSND huyện Ea H’Leo; - Cơ quan THAHS CA huyện Ea H’Leo; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA huyện Ea H’Leo; - Chi cục THADS huyện Ea H’Leo; - Bộ phận THAHS TAND huyện Ea H’Leo; - Bị cáo; các đương sự; - Lưu hồ sơ, vi tính; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Nguyễn Huy Vũ |