- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đức T phạm tội “Giết người”. - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2019/HS-ST Ngày: 20 - 6 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGH Ĩ A VIỆT NAM
TÒAÁN NHÂN DÂN T ỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Việt
Thẩm phán: Ông Nguyễn Thái Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Hoàn; Ông Nguyễn Thanh Lương; Ông Nguyễn Văn Sinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Anh Việt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Chế Thị Bích Thuỷ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 6 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 297/2019/ QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:
Trần Đức T, sinh ngày 26 tháng 10 năm 1982 tại xã P, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Đội 6, thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Đức V và bà Ngô Thị X; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Vì có biểu hiện tâm thần nên học đến lớp 5/12 thì nghỉ học, năm 2011 gia đình đưa vào sống tại Trung tâm bảo trợ tỉnh Thừa Thiên Huế đến tháng 11 năm 2018 chuyển ra Trung tâm chăm sóc sức khoẻ và phục hồi chức năng người tâm thần tỉnh Quảng Bình; bị bắt tạm giữ ngày 23 tháng 11 năm 2018, sau đó bị tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Đức T: Ông Lê Thanh Hà, Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Bà Hoàng Thị X, sinh năm 1970 (chị gái bị hại Hoàng Văn L đã chết), trú tại: Tổ dân phố X, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan:
Ông Nguyễn Anh D, Giám đốc Trung tâm chăm sóc và phục hồi chức năng người tâm thần tỉnh Quảng Bình, có địa chỉ tại: Phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Có mặt;
Ông Trần Đức V, sinh năm 1975 (anh trai bị cáo Trần Đức T), trú tại Đội 6, thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
- Người làm chứng:
Các anh Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1991; Nguyễn Minh H, sinh năm 1992; Nguyễn Tùng L, sinh năm 1994; Trần Đình T, sinh năm 1990, đều công tác tại Trung tâm chăm sóc và phục hồi chức năng người tâm thần tỉnh Quảng Bình, có địa chỉ tại: Phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Đều có mặt.
NỘI DUNG VỤÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ 15 phút, ngày 23 tháng 11 năm 2018, tại Trung tâm chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng người tâm thần tỉnh Quảng Bình ở phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Trần Đức T là đối tượng đang được chăm sóc tại Trung tâm tỉnh dậy, thấy đối dép của mình bị mất nên đi tìm, khi tìm đến giường ngủ của Hoàng Văn L, cũng là bệnh nhân tâm thần đang được chăm sóc tại Trung tâm, phát hiện thấy dép của mình, Trần Đức T lấy dép rồi đi ra phía sân sinh hoạt chung để trở về phòng thì Hoàng Văn L đi theo phía sau đòi lại dép. Trần Đức T liền quay lại dùng hai tay đấm vào mặt, ngực, lưng của anh L làm anh L ngã xuống nền sân. Khi thấy anh Hoàng Văn L cố ngẫng đầu đứng dậy thì Trần Đức T đã dùng chân trái đạp mạnh nhiều cái vào đầu của anh L làm đầu anh L đập mạnh xuống nền sân lát gạch, anh L hét to thì bị Trần Đức T dùng chân trái đứng lên cổ trước, co chân phải lên đồng thời nhún 3 đến 5 cái, thấy anh L nằm bất động, Trần Đức T không đánh nữa. Sự việc được các anh Nguyễn Minh H, Nguyễn Ngọc L và Trần Đình T đều là cán bộ trực tại Trung tâm chăm sóc và phục hồi chức năng người tâm thần tỉnh Quảng Bình phát hiện, chạy đến đưa Trần Đức T vào phòng; thực hiện sơ cứu cho Hoàng Văn L nhưng anh Hoàng Văn L đã chết.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 08/TT ngày 17 tháng 12 năm 2018 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y Sở Y tế tỉnh Quảng Bình kết luận: 1. Dấu hiệu chính qua giám định:
Đa chấn thương:
Chấn thương sọ não: Đỉnh giữa có vết rách da dọc cơ thể kích thước (4,5 x 0,2)cm. Chẩm phải có 02 vết rách da, vết trên kích thước 22 x 0,2cm, vết dưới kích thước 2,5 x 0,2cm. Thái dương phải có vết rách da kích thước 1,6 x 0,2cm. Tụ máu dưới da vùng đỉnh chẩm giữa kích thước 10 x 5cm và vùng thái dương phải kích thước 4 x 2,5cm. Tụ màng mềm vùng chẩm trái kích thước 3 x 2cm, vùng thái dương phải kích thước 8 x 5cm và vùng đỉnh phải kích thước 3,5 x 2cm.
Chấn thương cổ, ngực: Tràn khí dưới da vùng cổ trước hai bên và ngực phải. Tụ máu dưới da, cơ và môi L kết vùng cổ trước hai bên, toàn bộ ngực phải và các khoang L sườn ngực phải. Cuống phổi và hai phổi xung huyết. Vỡ nhánh khí quản phải, phổi phải xẹp cả ba thùy.
2. Nguyên nhân chết:
Đa chấn thương: Chấn thương sọ não và chấn thương ngực.
3. Thời gian chết: Từ lúc chết đến lúc khám nghiệm không quá 24 giờ.
Ngày 17 tháng 12 năm 2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Bình ra Quyết định số 10/QĐ – PC 02 Trưng cầu Trung tâm Pháy y tâm thần khu vực miền Trung giám định đối với Trần Đức T.
Tại bản Kết luận giám định Pháp y tâm thần số 124/KLGĐTC ngày 29 tháng 01 năm 2019 của Trung tâm Pháy y tâm thần khu vực miền Trung - Bộ Y tế kết luận:
*Trước thời điểm gây án:
a. Về mặt y học: Động kinh cơn lớn có biến đổi trí năng nhân cách (G40)
b. Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
*Tại thời điểm gây án:
a. Về mặt y học: Động kinh cơn lớn có biến đổi trí năng nhân cách (G40)
b. Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
* Tại thời điểm hiện tại:
a. Về mặt y học: Động kinh cơn lớn có biến đổi trí năng nhân cách (G40).
Đối tượng cần được điều trị ngoại trú liên tục.
b. Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
Trong quá trình điều tra, bà Hoàng Thị X, chị gái của bị hại Hoàng Văn L, là người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo Trần Đức T bồi thường thiệt hại dân sự do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Cáo trạng số 168/CT-VKS-P2 ngày 04 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Trần Đức T về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, bị cáo Trần Đức T khai nhận chính bị cáo là người đã đánh chết anh Hoàng Văn L vì trước đó tại Trung tâm bảo trợ tỉnh Thừa Thiên Huế, Hoàng Văn L đã có lần lấy trộm dép của Toàn, nay tại Trung tâm chăm sóc và phục hồi chức năng người tâm thần tỉnh Quảng Bình, Hoàng Văn L lại tiếp tục lấy trộm dép của bị cáo, khi bị cáo tìm thấy lấy lại thì anh L còn đi theo yêu cầu bị cáo trả lại dép cho anh L làm bị cáo tức dận dẫn đến phạm tội, bị cáo rất hối hận về hành động của mình.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Trần Đức T không tranh luận tội danh “Giết người” theo Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo Trần Đức T, các tình tiết giảm nhẹ theo các điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Chỉ đề nghị xem xét cho bị cáo tình tiết phạm tội định khung hình phạt theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 vì theo Kết luận giám định pháp y tâm thần số 124/KLGĐTC ngày 29 tháng 01 năm 2019 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền Trung - Bộ Y tế đối với Trần Đức T thì trước thời điểm gây án, tại thời điểm gây án và ở thời điểm hiện tại: Về mặt y học: Động kinh cơn lớn có biến đổi trí năng nhân cách (G40); Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Đối tượng cần được điều trị ngoại trú liên tục. Theo đó để áp dụng khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo mức án từ 5 đến 6 năm tù. Đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Đại diện người bị hại bà Hoàng Thị X trình bày anh Hoàng Văn L bị bệnh tâm thần từ nhỏ nên được chính quyền địa phương lập hồ sơ đưa vào điều trị tại Trung tâm chăm sóc và phục hồi chức năng người tâm thần tỉnh Quảng Bình. Hiện tại bố mẹ đều đã mất chỉ có bà là người đại diện hợp pháp duy nhất của anh Hoàng Văn L. Bà Hoàng Thị X đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo Trần Đức T, xử phạt bị cáo mức án 02 năm tù.
Ông Nguyễn Anh D, Giám đốc Trung tâm chăm sóc và phục hồi chức năng người tâm thần tỉnh Quảng Bình trình bày sự việc diễn ra vào lúc 02 giờ sáng, lại quá nhanh, khi phát hiện sự việc, các cán bộ trực tại Trung tâm đã kịp thời đưa nạn nhân vào cấp cứu nhưng do thương tích quá nặng nên nạn nhân đã tử vong, không có việc Lãnh đạo Trung tâm và cán bộ trong ca trực thiếu trách nhiệm trong vụ việc đã xảy ra. Sau khi sự việc xảy ra, Trung tâm đã nghiêm túc kiểm điểm rút kinh nghiệm theo yêu cầu của Cơ quan Cảnh sát điều tra, đồng thời đã báo cáo Cơ quan chủ quản cấp trên tăng cường con người, phương tiện theo dõi, quản lý bệnh nhân điều trị tại Trung tâm để không xảy ra trường hợp tương tự. Đối với các chi phí mà Trung tâm đã bỏ ra để mai táng người bị hại, Trung tâm không yêu cầu Trần Đức T phải bồi hoàn vì hoàn cảnh kinh tế của gia đình Trần Đức T quá khó khăn.
Ông Trần Đức V, anh trai bị cáo Trần Đức T trong quá trình điều tra và tại phiên toà trình bày: Do thấy Trần Đức T có biểu hiện tâm thần nên gia đình đã đưa Trần Đức T vào học ở lớp Tình thương huyện Lệ Thuỷ, Trần Đức T học đến lớp 5/12 thì nghỉ học. Năm 2011, Trần Đức T được gia đình đưa vào chăm sóc tại Trung tâm bảo trợ tỉnh Thừa Thiên Huế đến tháng 11 năm 2018 chuyển ra Trung tâm chăm sóc sức khoẻ và phục hồi chức năng người tâm thần tỉnh Quảng Bình. Sau khi nhận được Thông báo của Cơ quan chức năng gia đình mới biết việc “Giết người” của Trần Đức T. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố xét xử sơ thẩm vụ án khẳng định Cáo trạng số 168/CT-VKS-P2 ngày 04 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Trần Đức T về tội “Giết người” theo tình tiết tăng nặng định khung của điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với Trần Đức T, xử phạt bị cáo Trần Đức T mức án từ 09 đến 10 năm tù. Không chấp nhận quan điểm của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo cho rằng khi phạm tội bị cáo Trần Đức T bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi nên bị cáo chỉ phạm tội theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về trách nhiệm dân sự:
Do đại diện bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan không có yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN Đ ỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, Trợ giúp viên pháp lý được chỉ định bào chữa cho bị cáo Trần Đức T, đại diện người bị hại không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Theo đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1]. Về tội danh “Giết người”, theo truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo Trần Đức T.
Theo lời khai của bị cáo Trần Đức T tại phiên toà thừa nhận chính mình là người đã đánh chết anh Hoàng Văn L phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với diễn biến vụ án; phù hợp với thời gian, địa điểm nơi bị cáo gây án; phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường nơi vụ án xảy ra; phù hợp với lời khai của các người làm chứng là các cán bộ của Trung tâm chăm sóc và phục hồi chức năng người tâm thần tỉnh Quảng Bình có mặt tại ca trực lúc khoảng 02 giờ 15 phút ngày 23 tháng 11 năm 2018; phù hợp với Kết luận giám định Pháp y về tử thi số 08/TT ngày 17 tháng 12 năm 2018 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y Sở Y tế tỉnh Quảng Bình kết luận nguyên nhân chết của anh Hoàng Văn L; theo Kết luận của Trung tâm Pháy y tâm thần khu vực miền Trung
- Bộ Y tế về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của Trần Đức T, trước, trong và tại thời điểm gây án thì hành vi phạm tội của Trần Đức T có đủ yếu tố cấu thành của tội “Giết người” được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015).
[2]. Về khung hình phạt, trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Đức T.
Qua nội dung, tình tiết vụ án cho thấy bị cáo Trần Đức T chỉ từ nguyên cớ nhỏ nhặt theo việc anh Hoàng Văn L là bệnh nhân đang cùng điều trị với bị cáo tại Trung tâm chăm sóc và phục hồi chức năng người tâm thần tỉnh Quảng Bình đã lấy trộm dép của bị cáo, khi bị cáo tìm thấy lấy lại thì anh L còn đi theo yêu cầu bị cáo trả lại dép cho anh L mà bị cáo đã nhẫn tâm dùng hai tay đấm vào mặt, ngực, lưng của anh L làm anh L ngã xuống nền sân. Khi thấy anh Hoàng Văn L cố ngẫng đầu đứng dậy thì Trần Đức T đã dùng chân trái đạp mạnh nhiều cái vào đầu của anh L làm đầu anh L đập mạnh xuống nền sân lát gạch, anh L hét to thì bị Trần Đức T dùng chân trái đứng lên cổ trước, co chân phải lên đồng thời nhún 3 đến 5 cái làm anh Hoàng Văn L tử vong ngay sau đó. Cáo trạng số 168/CT-VKS-P2 ngày 04 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình truy tố để Tòa án xét xử bị cáo Trần Đức T về tội “Giết người”, theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà đề nghị tuyên bố bị cáo Trần Đức T phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, là có căn cứ, đúng khung hình phạt đối với bị cáo Trần Đức T. Theo tình tiết vụ án, mức độ phạm tội của bị cáo thì không có căn cứ để chấp nhận quan điểm của người bào chữa cho bị cáo cho rằng bị cáo Trần Đức T phạm tội không thuộc trường hợp định khung tăng nặng theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 vì theo Kết luận giám định của Cơ quan chuyên môn, trước thời điểm gây án, tại thời điểm gây án và ở thời điểm hiện tại Trần Đức T bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi để áp dụng khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo mức án từ 5 đến 6 năm tù.
Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Đức T đã để lại đau khổ về tinh thần, tổn thất về vật chất đối với thân nhân, gia đình bị hại, gây tâm lý hoang mang lo sợ, bức xúc, phẫn nộ trong quần chúng nhân dân, làm mất ổn định trật tự, trị an trên địa bàn nên cần phải được xử phạt mức án nghiêm khắc theo Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Trần Đức T luôn khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình, theo Kết luận giám định của Cơ quan chuyên môn thì trước thời điểm gây án; tại thời điểm gây án và ở thời điểm hiện tại bị cáo Trần Đức T có hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, tại phiên toà bị cáo đã có ý kiến để ông Trần Đức V, anh trai bị cáo giao cho đại diện bị hại 2.000.000 đồng, được đại diện bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo các điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo đó, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo, xử phạt bị cáo mức án như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, đủ để trừng trị riêng đối với bị cáo và còn có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm này.
[3]. Về trách nhiệm bồi thường dân sự đối với bị cáo Trần Đức T:
Do trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bà Hoàng Thị X là đại diện hợp pháp của bị hại Hoàng Văn L không có yêu cầu; Trung tâm chăm sóc và phục hồi chức năng người tâm thần tỉnh Quảng Bình không yêu cầu Trần Đức T bồi hoàn các chi phí mai táng bị hại Hoàng Văn L nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ghi nhận tại phiên toà ông Trần Đức V, anh trai bị cáo có giao cho bà Hoàng Thị X đại diện bị hại 2.000.000 đồng để thắp hương cho bị hại.
[4]. Về xử lý vật chứng vụ án.
Trong quá trình điều tra có thu giữ vật chứng vụ án là mẫu máu của tử thi Hoàng Văn L để phục vụ công tác điều tra và xét xử, Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu huỷ vật chứng vụ án được thu giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng vụ án ngày 09 tháng 4 năm 2019 giữa cán bộ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Bình với cán bộ Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình.
Theo kết quả điều tra và xét xử cho thấy Lãnh đạo Trung tâm chăm sóc và phục hồi chức năng người tâm thần tỉnh Quảng Bình và các cán bộ của Trung tâm trong ca trực không có dấu hiệu thiếu trách nhiệm để xảy ra sự việc Trần Đức T đánh chết Hoàng Văn L vào lúc khoảng 02 giờ 15 phút ngày 23 tháng 11 năm 2018 tại Trung tâm chăm sóc và phục hồi chức năng người tâm thần tỉnh Quảng Bình. Khi phát hiện sự việc, các cán bộ có mặt đã kịp thời đưa nạn nhân vào cấp cứu nhưng do thương tích quá nặng nên nạn nhân đã tử vong. Thực hiện yêu cầu của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trung tâm chăm sóc và phục hồi chức năng người tâm thần tỉnh Quảng Bình đã tiến hành kiểm điểm rút kinh nghiệm nghiêm túc, đồng thời đã báo cáo Cơ quan chủ quản cấp trên tăng cường con người, phương tiện theo dõi, quản lý bệnh nhân điều trị tại Trung tâm để không xảy ra trường hợp tương tự nên Hội đồng xét xử không có kiến nghị, yêu cầu gì thêm.
[5]. Về án phí: Theo các quy định hiện hành thì ở giai đoạn xét xử không có chế độ miễm giảm án phí hình sự đối với người bị kết án nên bị cáo Trần Đức T phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của khoản 2 các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 3, 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[6]. Về quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm: Bị cáo Trần Đức T, đại diện bị hại bà Hoàng Thị X; Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo; các người có quyền lợi nhĩa vụ L quan được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định để yêu cầu xét xử phúc thẩm vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ ỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Đức T phạm tội “Giết người”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Đức T. Xử phạt bị cáo Trần Đức T 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 23 tháng 11 năm 2018 sau đó bị tạm giam.
3. Về trách nhiệm bồi thường dân sự đối với bị cáo Trần Đức T:
Do trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bà Hoàng Thị X là đại diện hợp pháp của bị hại Hoàng Văn L không có yêu cầu bồi thường thiệt hại; Trung tâm chăm sóc và phục hồi chức năng người tâm thần tỉnh Quảng Bình không yêu cầu Trần Đức T bồi hoàn các chi phí mai táng bị hại Hoàng Văn L nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về xử lý vật chứng vụ án.
Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu huỷ vật chứng vụ án được thu giữ là mẫu máu của tử thi Hoàng Văn L để phục vụ công tác điều tra và xét xử, theo Biên bản giao nhận vật chứng vụ án ngày 09 tháng 4 năm 2019 giữa cán bộ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Bình với cán bộ Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình.
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 3, 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Trần Đức T phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định.
6. Bị cáo Trần Đức T, đại diện bị hại bà Hoàng Thị X, Trợ giúp viên bào chữa cho bị cáo Trần Đức T; các người có quyền lợi nghĩa vụ L quan đều có mặt tại phiên toà nên được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên Bản án sơ thẩm (20 tháng 6 năm 2019) để yêu cầu xét xử phúc thẩm vụ án.
| Nơi nhận: - Theo khoản 1 Điều 262 Bộ luật TTHS; - Vụ GĐKT1 (khi án ST có HLPL); - Phòng HSNVCS CAQB; - Cục THA DS tỉnh QB; - Sở Tư pháp tỉnh QB; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu án văn, VP TAQB. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguy ễn Xuân Vi ệt |