- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Văn Q và đồng phạm phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 13…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trịnh Văn Q, Nguyễn Xuân Đ, Trịnh Văn M phạm tội “Cố ý gây thư ng tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN H. YÊN ĐỊNH - T. THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2019/HS-ST Ngày 11-4-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH-THANH HÓA
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Võ Kỳ Anh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Cung
2. Bà Vũ Thị Nguyệt.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Dung - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Cường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 4 năm 2019 tại Tr s Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh H a t s th m công khai v án hình sự s th m th lý số: 12/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa v án ra t số: 17/2019/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trịnh Văn Q, sinh ngày 02 tháng 5 năm 1999 tại ã Quý Lộc, huyện Yên Định, Thanh H a; n i ĐKHKTT và chỗ hiện nay: thôn 1, xã Quý Lộc huyện Yên Định, Thanh Hóa; giới tính: nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn h a: 09/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trịnh Văn G, sinh năm: 1966, con bà: Trịnh Thị S, sinh năm: 1973, hiện đều đang sinh sống tại ã Quý Lộc, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; gia đình c 02 chị em, bị cáo là con thứ 2; bị cáo chưa c vợ, con; tiền án: tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/11/2018 đến ngày 21/11/2018 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh H a, đến ngày 14/12/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh.
Bị cáo tại ngoại c mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Xuân Đ, sinh ngày 24 tháng 02 năm 1998 tại ã Quý Lộc, huyện Yên Định, Thanh H a; n i ĐKHKTT và chỗ hiện nay: thôn 1, ã Quý Lộc huyện Yên Định, Thanh Hóa; giới tính: nam; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn h a: 08/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn P, sinh năm: 1966, con bà: Trịnh Thị X, sinh năm: 1972, hiện đều đang sinh sống tại ã Quý Lộc, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; gia đình c 02 anh em, bị cáo là con thứ 2; bị cáo chưa c vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/11/2018 đến ngày 21/11/2018 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh H a, đến ngày 14/12/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh.
Bị cáo tại ngoại c mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Trịnh Văn M, sinh ngày 27 tháng 8 năm 2000 tại ã Quý Lộc, huyện Yên Định, Thanh H a; n i ĐKHKTT và chỗ hiện nay: thôn 7, xã Quý Lộc huyện Yên Định, Thanh Hóa; giới tính: nam; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn h a: 11/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trịnh Văn B, sinh năm: 1971, con bà: Trịnh Thị K, sinh năm: 1973, hiện đều đang sinh sống tại ã Quý Lộc, huyện Yên Định, tỉnh Thanh H a; gia đình c 03 anh em, bị cáo là con thứ 3; bị cáo chưa c vợ, con; tiền án: không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/11/2018 đến ngày 21/11/2018 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh H a, đến ngày 14/12/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh.
Bị cáo tại ngoại c mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Anh Vũ Văn H, sinh năm: 1994
Trú tại: Thôn 11, xã Yên Thọ, huyện Yên Định, Thanh Hóa.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Phạm Thị Th, sinh năm: 1994
Trú tại: Thôn 1, ã Quý Lộc, huyện Yên Định, Thanh Hóa.
2. Anh Trần Hồng D, sinh năm: 2000
Trú tại: Thôn 8, ã Quý Lộc, huyện Yên Định, Thanh Hóa.
- Những người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Văn X, sinh năm: 1999
Trú tại: Thôn 7, ã Quý Lộc, huyện Yên Định, Thanh Hóa.
2- Anh Cao Văn Ch, sinh năm: 1996
Trú tại: Thôn Xuân Thái, ã Yên Thọ, huyện Yên Định, Thanh H a.
3- Anh Cao Văn L, sinh năm: 1996
Trú tại: Thôn 11, ã Yên Thọ, huyện Yên Định, Thanh H a.
4- Anh Cao Văn Y, sinh năm: 1998
Trú tại: Thôn Xuân Thái, ã Yên Thọ, huyện Yên Định, Thanh H a.
5- Anh Vũ Văn T, sinh năm: 1995
Trú tại: Thôn 11, ã Yên Thọ, huyện Yên Định, Thanh Hóa.
6- Anh Trịnh Trọng Tr, sinh năm: 1997
Trú tại: Thôn 1, ã Quý Lộc, huyện Yên Định, Thanh Hóa.
Tại phiên tòa, c mặt c mặt anh H, chị Th, anh D, anh T, vắng mặt anh Tr, anh X, anh Ch, anh L và anh Y.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ s v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được t m tắt như sau:
Vào trưa ngày 15/11/2018, sau khi đi đám cưới về thì Trịnh Văn M, Trịnh Văn Q, Nguyễn Xuân Đ, Nguyễn Văn X, Trịnh Văn M và Trịnh Trọng Tr đều ã Quý Lộc, huyện Yên Định cùng một số người nữa đi hát karaoke tại quán Phong Thủy ã Quý Lộc. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì không hát nữa và ra về, lúc này X điều khiển e máy của X ch Đ và Q, M điều khiển e của Tr để ch Tr. Trên đường đi về, Q thấy nh m thanh niên ã Yên Thọ trong đ c Vũ Văn H là người Làng Mố, ã Yên Thọ, huyện Yên Định, thì Q nhận ra nh m thanh niên này là nh m thanh niên hôm qua đã chấn đường nh m của Q đi ch i ngang qua Làng Mố, ã Yên Thọ, nên Q n i với Đ và X là “hôm qua bọn này chấn mình, giờ về lấy đồ (tức dung c , hung khí) đánh lại bọn n ”. Nghe Q n i như vậy thì Đ và X không nói gì. Sau đ , X điều khiển e máy ch Q và Đ đến chân núi thuộc địa phận thôn 1, ã Quý Lộc để lấy “đồ” đã cất giấu trước đ . Khi đến n i, Đ uống lấy một con dao tự chế dài khoảng 50cm, cán dao dài khoảng 15cm, màu sáng đ c, còn Q thì lấy một đoạn ống tuýp sắt dài khoảng 60cm, hình tròn, đường kính khoảng 2cm rồi cả hai để dao và gậy tuýp lên e máy của X. Lúc đ , M biết Q và Đ đi lấy đồ để đánh nh m thanh niên ã Yên Thọ nên M điều khiển e ch Tr, còn X điều khiển e ch Q và Đ đi lên ngã tư ã Quý Lộc đoạn gần UBND ã Quý Lộc để đứng đợi nh m thanh niên xã Yên Thọ đi qua. Đợi một lúc sau thì thấy nh m thanh niên ã Yên Thọ đi đến, Q đi ra hỏi nh m thanh niên ã Yên Thọ là “c phải hôm qua chấn nh m của Q không” thì H n i là phải. Cùng lúc này, gậy tuýp sắt của Q đang để trên e máy của X bị r i uống đất nên H đi lại nhặt chiếc gậy tuýp rồi lên e máy của Vũ Văn T (là bạn trong nh m của H) rồi T điều khiển e máy ch H đi về hướng ã Yên Lâm, thấy vậy X điều khiển e máy ch Q và Đ đuổi theo. Lúc đ , Tr bị say rượu nên M đợi cho Tr nôn ong rồi mới đi theo sau. Khi đến khu vực ư ng gỗ đoạn thuộc địa phận thôn 9, ã Quý Lộc thì H từ trên e máy của T nhảy uống. Lúc này, X cũng ch Đ và Q lên đến n i, Đ và Q uống e rồi đi bộ lại chỗ H, còn X tiếp t c điều khiển e đi lên n i chuyện với một số thanh niên khác của ã Yên Thọ. Q n i với H là “cho em in lại cây tuýp”, H n i “muốn lấy gậy thì vào Làng Mố mà lấy”. Lúc này, T lại chỗ H rồi dật cây tuýp từ tay của H đưa cho Q. Tiếp đ , Q đứng n i chuyện với T, Đ đứng n i chuyện với H. Khi Đ đang đứng n i chuyện với H thì bị nh m bạn của H n m c c gạch vào hông. Thấy Đ bị n m, H bỏ chạy, Đ cầm dao đuổi theo H. Q thấy Đ cầm dao đuổi đánh H thì Q đang cầm tuýp sắt v t vào người của T. Khi bị đánh, T bỏ chạy, Q cầm tuýp sắt v t với theo thêm một cái nữa, rồi Q quay lại nhìn thì thấy H đang chạy về phía của Q nên Q cầm gậy bằng tay phải đập một cái từ ngoài vào trong trúng vào vùng hông bên trái của H. H tiếp t c chạy thêm được một đoạn nữa thì bị trượt chân và ngã uống cổng một nhà dân gần đ . Lúc đ , Q tiếp t c đuổi đánh T, còn Đ thì vẫn cầm dao đuổi theo H. Khi H bị ngã thì Đ đuổi đến n i. Lúc đ , H bị ngã đang nằm nghiêng bên phải thì Đ chạy đến rồi dùng dao ch m từ trên uống hai nhát về phía của H nhưng nhát đầu thì trượt uống nền bê tông, nhát thứ hai thì trúng vào vùng đầu của H. Thấy H bị ch m thì Cao Văn L Làng Mố, ã Yên Thọ (là bạn trong nh m của H) đang đứng gần đ cầm một c c bê tông và n m vào vùng ngực của Đ, Đ bị đau nên không đánh H nữa. Lúc này M mới ch Tr đến n i thì thấy nh m bạn cùng ã của M đang đánh nhau với nh m thanh niên ã Yên Thọ. M thấy H đang lom khom ngồi dậy để bỏ chạy thì M chạy đến chỗ H rồi dùng tay chân đấm đá liên tiếp nhiều cái vào người của H. Sau đ , H đứng dậy được rồi bỏ chạy về hướng ã Yên Lâm và do H bị thư ng nên được mọi người đưa đi bệnh viện cấp cứu điều trị. Sau khi dùng dao và gậy liên tiếp đánh gây thư ng tích cho H xong thì Đ và Q đã vứt dao và gậy tuýp uống ao một nhà dân gần đ rồi cùng X, M và Tr lên e đi về.
Sau khi đánh gây thư ng tích cho H, nhận thấy hành vi của mình là sai nên trong chiều ngày 15/11/2018 Trịnh Văn Q, Nguyễn Xuân Đ và Trịnh Văn M và đã đến C quan Công an huyện Yên Định in đầu thú và khai báo thành kh n toàn bộ hành vi của mình, sau đ v án được kh i tố để điều tra.
Sau khi Vũ Văn H bị đánh gây thư ng tích, ngày 16/11/2018 gia đình Vũ Văn H đã làm đ n đề nghị C quan CSĐT Công an huyện Yên Định kh i tố v án hình sự và yêu cầu được đi giám định thư ng tích cho Vũ Văn H.
Tại biên bản em t dấu vết trên thân thể ngày 15/11/2018 đối với Vũ Văn H thể hiện thư ng tích như sau: 01 vết bầm tím vùng sườn trái c kích thước 08 02cm; 01 vết thư ng vùng đầu rách da c kích thước 04 0,5cm; 01 vết sây át ngoài ra cánh tay trái. Vũ Văn H điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh H a từ ngày 15/11/2018 đến ngày 28/11/2018 thì vết thư ng ổn định và ra viện.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thư ng tích số 768/2018/TTPY ngày 19/12/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận tỷ lệ tổn thư ng c thể do thư ng tích gây nên đối với Vũ Văn H là 29% (trong đ chấn thư ng vùng sườn trái gây chấn thư ng b ng kín làm vỡ lách phải phẫu thuật cắt lách, hiện tại bị tổn thư ng 26%; chấn thư ng vùng đỉnh đầu 04%; các vết thư ng khác không còn tỷ lệ thư ng tích).
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc ảy ra gia đình của các bị cáo Trịnh Văn Q, Nguyễn Xuân Đ và Trịnh Văn M đã thỏa thuận bồi thường tiền viện phí, thiệt hại về thể chất, tinh thần cho Vũ Văn H, tổng số tiền là 280.000.000 đồng. Anh H đã nhận đủ số tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm. Ngày 12/01/2019, anh Vũ Văn H đã c đ n in miễn giảm trách nhiệm hình sự cho Q, Đ và M.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 c c bê tông màu trắng, không rõ hình; 01 chiếc giầy vải màu đen, đế màu trắng, đã qua s d ng và 01 chiếc mũ cối màu anh, ch p đã bị bẹp, đã qua s d ng.
- Hung khí mà Q và Đ đã dùng để đánh gây thư ng tích cho anh H là 01 con dao tự chế dài khoảng 50cm, cán dao dài khoảng 15cm, lưỡi dao rộng khoảng 3cm và 01 gậy tuýp sắt dài khoảng 60cm, đường kính khoảng 2cm. Sau khi đánh gây thư ng tích cho H xong thì Q và Đ đã vứt dao và gậy uống ao gần hiện trường. Quá trình điều tra, C quan CSĐT Công an huyện Yên Định đã phối hợp với Công an ã Quý Lộc tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.
- Đối với chiếc e máy nhãn hiệu HONDA, màu trắng đen, loại e BLADE, BKS: 36B6 - 027.92 mà Trịnh Văn X đã s d ng để ch Q và Đ đi thực hiện hành vi phạm tội là e máy của anh Trần Hồng D
ã Quý Lộc, huyện Yên Định cho X mượn để đi. Khi cho mượn e, D không biết X dùng xe để ch Q và Đ đi phạm tội. Sau khi điều tra làm rõ, C quan CSĐT Công an huyện Yên Định đã trả lại phư ng tiện cho chủ s hữu là anh Trần Hồng D.
- Đối với chiếc e máy nhãn hiệu HONDA, loại e Vision, màu đen đỏ, BKS: 36B6 - 406.64 mà Trịnh Văn M đã s d ng để làm phư ng tiện đi thực hiện tội phạm là e máy của Trịnh Trọng Tr mượn của chị Phạm Thị Th ã Quý Lộc (là chị dâu của Tr) để đi ch i. Khi M s d ng chiếc e máy trên để làm phư ng tiện đi thực hiện tội phạm thì Tr đang bị say rượu nên không biết việc M s d ng chiếc e máy mà Tr mượn của chị Th để làm phư ng tiện phạm tội. Sau khi điều tra, làm rõ C quan CSĐT Công an huyện Yên Định đã trả lại phư ng tiện cho chủ s hữu là chị Phạm Thị Th.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKSYĐ ngày 18/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định đã truy tố các bị cáo Trịnh Văn Q, Nguyễn Xuân Đ về tội “Cố ý gây thư ng tích” theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, truy tố Trịnh Văn M về tội “Cố ý gây thư ng tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng t áp d ng các quy định của pháp luật phạt các bị cáo c thể như sau:
Áp d ng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
X phạt Trịnh Văn Q từ 30 tháng đến 36 tháng tù cho hư ng án treo, thời gian th thách 60 tháng , tính từ ngày tuyên án s th m.
Áp d ng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
X phạt Nguyễn Xuân Đ từ 24 tháng đến 30 tháng tù cho hư ng án treo, thời gian th thách từ 48 tháng đến 60 tháng, tính từ ngày tuyên án s th m.
Áp d ng khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
X phạt Trịnh Văn M từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hư ng án treo, thời gian th thách từ 24 tháng đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án s th m.
Giao các bị cáo Trịnh Văn Q, Nguyễn Xuân Đ, Trịnh Văn M cho UBND ã Quý Lộc, huyện Yên Định, tỉnh Thanh H a giám sát, giáo d c trong thời gian th thách.
Về lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 c c bê tông màu trắng, không rõ hình dạng; 01 chiếc giầy vải màu đen, đế màu trắng, đã qua s d ng và 01 chiếc mũ cối màu anh, ch p đã bị bẹp, đã qua s d ng.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự s th m theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa s th m, người bị hại là anh Vũ Văn H cho rằng các bị cáo đã nhận thấy được cái sai của mình, sau khi gây thư ng tích cho anh H, gia đình các bị cáo đã đến thăm hỏi, động viên và chăm s c cho người bị hại và đã bồi thường đầy đủ cho người bị hại với số tiền là 280.000.000đ vì vậy người bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào khác và đề nghị Hội đồng t
em t giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo c c hội s a chữa tội lỗi của mình.
NH N ĐỊNH CỦA HỘI Đ NG X T X :
Trên c s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng t nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố t ng của C quan điều tra Công an huyện Yên Định, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của C quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đ , các hành vi, quyết định tố t ng của C quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
2 Về hành vi phạm tội của các bị cáo Trịnh Văn Q, Nguyễn Xuân Đ, Trịnh Văn M:
Trưa ngày 15/11/2018, do cho rằng nh m thanh niên
ã Yên Thọ, huyện Yên Định, Thanh H a trong đ c Vũ Văn H trước đ đã chấn đường nh m thanh niên của Trịnh Văn Q khi đi ch i ngang qua làng Mố, ã Yên Thọ, huyện Yên Định, Thanh H a, nên nh m thanh niên của Trịnh Văn Q đã chấn đường ngã tư gần UBND ã Quý Lộc, huyện Yên Định, Thanh Hóa và gây sự với nh m thanh niên ã Yên Thọ. Trịnh Văn Q đã dùng gậy tuýp sắt v t vào hông bên trái của anh Vũ Văn H. Nguyễn Xuân Đ dùng dao tự chế ch m hai nhát, nhát đầu thì trượt uống nền bê tông, nhát thứ hai thì trúng vào vùng đầu của anh Vũ Văn H. Sau khi thấy anh H bị đánh, định bỏ chạy, Trịnh Văn M chạy đến chỗ anh H rồi dùng tay chân đấm đá liên tiếp nhiều cái vào người của anh H. Trịnh Văn Q, Nguyễn Xuân Đ và Trịnh Văn M đã đánh gây thư ng tích cho anh Vũ Văn H, tỷ lệ tổn thư ng c thể gây nên là 29%.
Đối với Nguyễn Văn X ban đầu c hành vi giúp sức Q và Đ trong việc đi lấy các hung khí nhưng sau đ không tham gia đánh gây thư ng tích cho anh Vũ Văn H, đồng thời khi sự việc ảy ra X cũng đã can ngăn các đối tượng nên X không phải là đồng phạm về tội Cố ý gây thư ng tích với Q, Đ và M.
Đối với Trịnh Trọng Tr quá trình đi hát đã bị say rượu nên không biết M dùng e của Tr để đi gây thư ng tích cho anh H và khi sự việc ảy ra Tr ngồi trên e máy không tham gia đánh H nên Tr không phải là đồng phạm về tội Cố ý gây thư ng tích.
Đối với hành vi của Cao Văn L dùng c c bê tông n m vào vùng ngực của Nguyễn Xuân Đ, Đ khai chỉ bị thư ng nhẹ và không yêu cầu giải quyết nên không em t lý.
Đối với hành vi của của Trịnh Văn Q cầm tuýp sắt v t vào người Vũ Văn T, T khai không bị thư ng tích gì và không yếu cầu giải quyết nên không em t lý.
Đối với các hành vi đuổi đánh nhau của các đối tượng khác c trong v án nhưng chưa gây hậu quả gì và không đủ yếu tố cấu thành các tội phạm khác nên không em t lý.
Tại phiên tòa s th m, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ c trong hồ s . Các bị cáo Trịnh Văn Q và Nguyễn Xuân Đ đã dùng gậy tuýp sắt và dao tự chế là hung khí nguy hiểm để đánh và ch m vào người anh Vũ Văn H gây thư ng tích cho anh H, tỷ lệ tổn thư ng c thể là 29%. Đây là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Đối với Trịnh Văn M không s d ng hung khí nguy hiểm, chỉ dùng tay chân, đấm đá liên tiếp nhiều cái vào người anh H, hành vi phạm tội của Trịnh Văn M thuộc khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Hội đồng t đủ c s để kết luận các bị cáo Trịnh Văn Q, Nguyễn Xuân Đ phạm tội “Cố ý gây thư ng tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trịnh Văn M phạm tội “Cố ý gây thư ng tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đ bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Thanh H a truy tố các bị cáo Trịnh Văn Q, Nguyễn Xuân Đ về tội “Cố ý gây thư ng tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Trịnh Văn M về tội “Cố ý gây thư ng tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
3 Tính chất nguy hiểm cho ã hội của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của các bị cáo không chỉ âm phạm sức khỏe của người khác là một khách thể quan trọng được pháp luật bảo vệ, mà còn làm thiệt hại đến kinh tế của người bị hại, gây ảnh hư ng ấu đến tình hình an ninh trật tự địa phư ng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho ã hội, các bị cáo đã coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, coi thường kỷ cư ng pháp luật của Nhà nước. Vì vậy cần phải lên cho các bị cáo một hình phạt thật nghiêm khắc, tư ng ứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo d c và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi áp d ng hình phạt, cần phải em t đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo.
4 Đánh giá vai trò của các bị cáo trong v án:
Trong v án này c nhiều người tham gia cùng nhau thực hiện tội phạm nhưng không c sự bàn bạc, phân công trách nhiệm, vai trò của từng người từ trước mà tội phạm do bột phát, nên chỉ là đồng phạm giản đ n.
Bị cáo Trịnh Văn Q là người kh i ướng hành vi đánh gây thư ng tích cho anh Vũ Văn H và trực tiếp cầm gậy tuýp sắt đánh anh Vũ Văn H nên giữ vai trò số một trong v án. Nguyễn Xuân Đ đã trực tiếp c hành vi dùng dao tự chế ch m anh Vũ Văn H nên giữ vai trò thứ hai trong v án. Bị cáo Trịnh Văn M dùng tay chân đánh Vũ Văn H nhưng mức độ hạn chế h n Q và Đ, nên giữ vai trò thứ ba trong v án.
[5 Về nhân thân của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Trịnh Văn Q, Nguyễn Xuân Đ và Trịnh Văn M đều là người c nhân thân tốt, chưa c tiền án, tiền sự, lần phạm tội này là lần phạm tội đầu tiên.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa s th m, các bị cáo Trịnh Văn Q, Nguyễn Xuân Đ và Trịnh Văn M đã thành kh n khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Trong quá trình điều tra, các bị cáo đã tác động gia đình, tự nguyện bồi thường tiền viện phí, tổn thất về thể chất, tinh thần, với tổng số tiền là 280.000.000đ và được người bị hại làm đ n in giảm nhẹ hình phạt. Sau khi phạm tội, các bị cáo đã đến C quan Công an đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài các tình tiết giảm nhẹ trên, bị cáo Trịnh Văn M còn được hư ng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm i khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự là: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo không c tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
6 Về hình phạt:
Các bị cáo Trịnh Văn Q, Nguyễn Xuân Đ đều là người c nhân thân tốt, lần đầu phạm tội. Các bị cáo c 03 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 và 2 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là tự nguyện bồi thường cho người bị hại, thành kh n khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, được người bị hại in giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do các bị cáo c nhiều tình tiết giảm nhẹ và không c tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, vì vậy không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống ã hội mà áp d ng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được hư ng án treo cũng c thể cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.
Bị cáo Trịnh Văn M cũng là người c nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo c 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đ là sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại, thành kh n khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đ là sau khi phạm tội đã ra C quan Công an đầu thú, được người bị hại in giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vì vậy cũng không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống ã hội mà áp d ng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hư ng án treo cũng c thể giúp bị cáo cải tạo thành người c ích cho ã hội.
[7 Về trách nhiệm dân sự: Sau khi phạm tội, các bị cáo đã tác động gia đình để bồi thường tiền viện phí, thiệt hại về thể chất, tinh thần cho anh Vũ Văn H, tổng số tiền là 280.000.000 đồng. Anh H đã nhận đủ số tiền bồi thường trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Vì vậy, Hội đồng t miễn t.
[8] Về lý vật chứng:
Đối với 01 c c bê tông màu trắng, không rõ hình; 01 chiếc giầy vải màu đen, đế màu trắng, đã qua s d ng và 01 chiếc mũ cối màu anh, ch p đã bị bẹp, đã qua s d ng là công c , phư ng tiện để các bị cáo, bị hại và những người c liên quan trong v án s d ng để đánh nhau hoặc bỏ lại hiện trường, không còn giá trị s d ng, cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với hung khí mà Trịnh Văn Q và Nguyễn Xuân Đ đã dùng để đánh gây thư ng tích cho anh Vũ Văn H là 01 con dao tự chế dài khoảng 50cm, cán dao dài khoảng 15cm, lưỡi dao rộng khoảng 3cm và 01 gậy tuýp sắt dài khoảng 60cm, đường kính khoảng 2cm. Sau khi đánh gây thư ng tích cho H xong thì Q và Đ đã vứt dao và gậy uống ao gần hiện trường. Quá trình điều tra C quan CSĐT Công an huyện Yên Định đã phối hợp với Công an ã Quý Lộc tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được nên không c c s để lý.
Đối với chiếc e máy nhãn hiệu HONDA, màu trắng đen, loại e BLADE, BKS: 36B6 - 027.92 mà Phạm Văn X đã s d ng để ch Q và Đ đi thực hiện hành vi phạm tội là e máy của anh Trần Hồng D
ã Quý Lộc, huyện Yên Định cho X mượn để đi. Khi cho mượn e, anh Trần Hồng D không biết X dùng e để ch Q và Đ đi phạm tội. Sau khi điều tra làm rõ C quan CSĐT Công an huyện Yên Định đã trả lại phư ng tiện cho chủ s hữu là anh Trần Hồng D là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với chiếc e máy nhãn hiệu HONDA, loại e Vision, màu đen đỏ, BKS: 36B6 - 406.64 mà Trịnh Văn M đã s d ng để làm phư ng tiện đi thực hiện tội phạm là e máy của Trịnh Trọng Tr mượn của chị Phạm Thị Th ã Quý Lộc (là chị dâu của Tr) để đi ch i. Khi M s d ng chiếc e máy trên để làm phư ng tiện đi thực hiện tội phạm thì Tr đang bị say rượu nên không biết việc M s d ng chiếc e máy mà Tr mượn của chị Th để làm phư ng tiện phạm tội. Sau khi điều tra làm rõ C quan CSĐT Công an huyện Yên Định đã trả lại phư ng tiện cho chủ s hữu là chị Phạm Thị Th là phù hợp với quy định của pháp luật.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự s th m theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Trịnh Văn Q, Nguyễn Xuân Đ, Trịnh Văn M phạm tội “Cố ý gây thư ng tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
X phạt Trịnh Văn Q 30(ba mư i) tháng tù cho hư ng án treo, thời gian th thách 60(sáu mư i) tháng, tính từ ngày tuyên án s th m.
X phạt Nguyễn Xuân Đ 24(hai mư i bốn) tháng tù cho hư ng án treo, thời gian th thách 48(bốn mư i tám) tháng, tính từ ngày tuyên án s th m.
Căn cứ khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
X phạt Trịnh Văn M 12(mười hai) tháng tù cho hư ng án treo, thời gian th thách 24(hai mư i bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án s th m.
iao bị cáo Trịnh Văn Q, Nguyễn Xuân Đ, Trịnh Văn M cho UBND ã Quý Lộc, huyện Yên Định, tỉnh Thanh H a giám sát, giáo d c trong thời gian th thách.
Trong trường hợp người được hư ng án treo thay đổi n i cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian th thách, người được hư ng án treo cố ý vi phạm nghĩa v 02 lần tr lên thì Tòa án c thể quyết định buộc người được hư ng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hư ng án treo.
2. Về bồi thường thiệt hại:
Chấp nhận việc người bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường thiệt hại sức khỏe do các bị cáo tự nguyện bồi thường là 280.000.000đ(hai trăm tám mư i triệu đồng).
3. X lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 c c bê tông màu trắng, không rõ hình dạng; 01 chiếc giầy vãi màu đen, đế màu trắng, đã qua s d ng và 01 chiếc mũ cối màu anh, ch p đã bị bẹp, đã qua s d ng.
Các vật chứng nêu trên được mô tả chi tiết và đang được tạm giữ tại Chi c c thi hành án dân sự huyện Yên Định theo phiếu nhập kho số NK25/2019 ngày 20/3/2019.
4. Án phí: Áp d ng Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội.
Các bị cáo: Trịnh Văn Q, Nguyễn Xuân Đ, Trịnh Văn M, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự s th m.
4. Quyền kháng cáo: Án công khai c mặt các bị cáo, người bị hại, người c quyền lợi, nghĩa v liên quan. Các bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo toàn bộ bản án; người c quyền lợi, nghĩa v liên quan được quyền kháng cáo những phần của bản án liên quan trực tiếp đến mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thanh H a; - VKSND huyện Yên Định; - Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá; - Các bị cáo; - Người bị hại; - Người c quyền lợi, nghĩa v liên quan; - Công an huyện Yên Định; - Chi c c THADS Yên Định; - Lưu hồ s . | TM. HỘI Đ NG X T X SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Kỳ Anh |