vanban.org

Bản án 17/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 23/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Kiều Thế A phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.

Xử phạt: Bị cáo Kiều Thế A 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/4/2019). Giao bị cáo cho ủy ban nhân dân xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Kiều Thế A phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHI XUÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2019/HSST
Ngày 23/4/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hoa và bà Đậu Thị Huyền

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Bích - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh tham gia

phiên tòa: Ông Trịnh Quốc Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2019 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2019/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Kiều Thế A, tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 15/9/1975 tại Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Thợ điện; Quê quán: Xuân Hải, Nghi Xuân, Hà Tĩnh; Nơi thường trú: thôn Trường L, xã Xuân H, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Cha: Kiều Thế D, SN: 1950; Mẹ: Nguyễn Thị T, SN: 1950 (Cả hai đều thường trú tại: thôn Trường L, xã Xuân H, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh). Vợ Phạm Thị A, SN: 1997 Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con: Có 02 đứa, đứa lớn nhất SN: 2003 (con riêng), nhỏ nhất SN: 2015; Anh chị em ruột: Có 03 người, bị can là con đầu.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 06/01/2019 đến ngày 07/01/2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh, nay có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến:

+ Võ Thành C - Sinh năm 1975 Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn Xuân A, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 05/01/2019, Kiều Thế A gặp một người đàn ông tên là T quê ở Quảng Bình (không rõ họ tên, địa chỉ). Quá trình ngồi nói chuyện với nhau, T nói với A là biết có nơi bán pháo ở tỉnh Quảng Bình, nếu muốn mua thì T sẽ mua giúp và gửi ra cho. A đồng ý và đưa cho T 4.000.000đ (bốn triệu đồng) để nhờ mua pháo về đốt và tặng cho bạn bè trong dịp tết nguyên đán, T cầm tiền rồi xin số điện thoại của A và hẹn khoảng 12 giờ trưa ngày 06/01/2019 đến khu vực ngã ba Gia Lách thuộc thị trấn Xuân An, huyện Nghi Xuân thấy xe khách nào chạy tuyến Quảng Bình – Hà Nội qua thì đón và nhận pháo. Đúng điểm hẹn, A có mặt tại đây và đứng ở điểm dừng xe khách gần trước phòng vé xe khách Văn Minh thì thấy một chiếc xe khách chạy tuyến Quảng Bình – Hà Nội (không rõ tên, địa chỉ nhà xe và biển kiểm soát xe). A đón xe và đọc số điện thoại của mình thì nhân viên nhà xe giao cho A một thùng xốp màu trắng, bên trên thùng có ghi số điện thoại 0976358458, thấy đúng số điện thoại của mình nên A đã nhận thùng hàng. Khi đang chuẩn bị thuê xe ôm để chở thùng hàng đem về nhà cất dấu thì bị lực lượng Công an huyện Nghi Xuân kiểm tra phát hiện bắt quả tang A và tang vật.

Tại kết luận giám định số 89/GĐP-PC09 ngày 07/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: 19 (mười chín) khối hộp thu giữ của Kiều Thế A,vỏ ngoài bọc giấy có hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, kích thước mỗi khối (14,5 x 14,5 x 10) cm, trong mỗi khối hộp có 36 vật hình trụ liên kết với nhau gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là: 23,8kg (hai mươi ba phẩy tám kilôgam) lấy mẫu giám định 0,08gram (không phẩy không tám gram), còn lại 23,72kg (hai ba phẩy bảy hai kilôgam).

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghi Xuân và tại phiên Tòa bị cáo Kiều Thế A đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSNX ngày 13 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Kiều Thế A “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Kiều Thế A với mức án từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy 23,72kg (hai ba phẩy bảy hai kilôgam) pháo nổ nêu trên.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là thợ làm điện tự do, công việc không ổn định gia đình có hoàn cảnh khó khăn vợ không có nghề nghiệp hiện đang mổ tại bệnh viện nội tiết tỉnh Nghệ An cho nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo nghĩ là phù hợp.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Kiều Thế A không có ý kiến gì tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử “xem xét giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng án treo” ngoài ra bị cáo không có ý kiến gì thêm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Nghi Xuân; Kiểm sát viên - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan, những người tiến hành tố tụng. Nên hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Phiên tòa vắng mặt người chứng kiến mặc dù đã được toà án triệu tập hợp lệ, xét việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo nên không cần thiết phải hoãn phiên tòa phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 293 của BLTTHS.

Nhận định của Hội đồng xét xử về tội danh; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các điều luật áp dụng đối với bị cáo:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Kiều Thế A đều khai nhận tội đúng như nội dung vụ án đã được nêu tóm tắt ở phần nội dung vụ án. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến; phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và phù hợp với vật chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Xét năng lực chịu trách nhiệm hình sự và hành vi tàng trữ 23,8kg (hai mươi ba phẩy tám kilôgam) pháo nổ của bị cáo thì đã có đầy đủ cơ sở để kết luận bị cáo Kiều Thế A phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.

Về tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó đã xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội; Xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các hàng hóa mà Nhà nước cấm buôn bán, tàng trữ và vận chuyển vì hành vi sử dụng pháo nổ không những gây lãng phí về tài sản mà còn là nguyên nhân gây nên các tai nạn về thương tích cho người, gây cháy nổ…song bất chấp sự gây hại, bất chấp pháp luật bị cáo đã tàng trữ một lượng pháo để nổ và làm quà cho bạn bè trong dịp tết nguyên đán 2019. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ pháo nổ là vi phạm pháp luật, nhưng do ý thức chấp hành pháp luật kém nên bị cáo vẫn cố tình vi phạm. Với hành vi tàng trữ 23,8kg pháo của bị cáo, theo quy định tại điểm c Điều 191 có khung hình phạt từ 06 tháng đến 3 năm nên cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Nhưng xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khẩn khai báo, gia đình có hoàn cảnh khó khăn vợ bị bệnh nặng đang điều trị ở bệnh viện Ung biếu tỉnh Nghệ An được chính quyền địa phương xác nhận, trong gia đình cả bố và mẹ bị cáo đều có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước các tình tiết đó được quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng cho nên đủ điều kiện áp dụng điều 65 BLHS mà không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà xử phạt tù có thời hạn nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục. Mức hình phạt như đại diện VKS nhân dân huyện Nghi Xuân đề nghị là phù hợp, đủ sức răn đe phòng ngừa tội phạm chung đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội tự cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội.

Phân tích chấp nhận hay không chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo:

Xét các nội dung đề xuất đối với Hội đồng xét xử của Kiểm sát viên và bị cáo tại phiên tòa là phù hợp do đó Hội đồng xét xử chấp nhận các đề nghị này.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là thợ làm điện tự do, công việc không ổn định gia đình có hoàn cảnh khó khăn vợ không có nghề nghiệp hiện đang mổ tại bệnh viện nội tiết tỉnh Nghệ An cho nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo nghĩ là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 01 thùng xốp màu trắng bên trong gồm có 19 (mười chín) khối hộp ngoài bọc giấy có hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, kích thước mỗi khối (14,5 x 14,5 x 10) cm, trong mỗi khối hộp có 36 vật hình trụ liên kết với nhau gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 23,8kg (hai mươi ba phẩy tám kilôgam), lấy mẫu giám định 0,08gram (không phẩy không tám gram), còn lại 23,72kg (hai ba phẩy bảy hai kilôgam).

Về những vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã mua giúp Kiều Thế A số pháo từ Quảng Bình đến huyện Nghi Xuân quá trình trao đổi hai bên không có dùng điện thoại, không liên lạc gì với nhau và thông tin lai lịch của người đàn ông này bị cáo không hề quen biết nên không biết là ai, cho nên không thể xác minh được nên không có cơ sở để xử lý.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí; Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a và điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2, Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21, ®iÓm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố bị cáo Kiều Thế A phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.

- Xử phạt: Bị cáo Kiều Thế A 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/4/2019). Giao bị cáo cho ủy ban nhân dân xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cứ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02(hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy : 01 thùng xốp màu trắng bên trong có chứa 19 (mười chín) khối hộp ngoài bọc giấy có hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, kích thước mỗi khối (14,5 x 14,5 x 10) cm, trong mỗi khối hộp có 36 vật hình trụ liên kết với nhau gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 23,8kg (hai mươi ba phẩy tám kilôgam), lấy mẫu giám định 0,08gram (không phẩy không tám gram), còn lại 23,72kg (hai ba phẩy bảy hai kilôgam) đã được niêm phong.

Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/3/2019 giữa cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân và Ban chỉ huy quân sự huyện Nghi Xuân và biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/3/2019 giữa cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Kiều Thế A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo lên tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ