vanban.org

Bản án 17/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai Tuyên án 07/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy 0,30 gam Heroine được niêm phong trong một phong bì thư của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai, mặt trước ghi “Vật chứng còn lại sa…

Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu phí, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Minh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Minh T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy 0,30 gam Heroine được niêm phong trong một phong bì thư của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai, mặt trước ghi “Vật chứng còn lại sa…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO THẮNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 17/2019/HS-ST
Ngày 07-5-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết

Ông Lê Xuân Cương

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Giang Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Mai Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2019/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2019/ QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Vũ Minh T (tên gọi khác: Không) Sinh ngày 08 tháng 02 năm 1981 tại huyện B, tỉnh Lào Cai;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai;

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Minh D, sinh năm 1949 và bà Đào Thị V, sinh năm 1950, đều trú tại Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai.

Vợ: Hoàng Thị T, sinh năm 1983, trú tại xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai (đã ly hôn năm 2016). Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2012.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Bị cáo chưa có án tích, chưa bị xử lý vi phạm hành chính và chưa bị xử lý kỷ luật.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 03/3/2019, tạm giam ngày 06/3/2019, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Bà Đào Thị H (tên gọi khác là P) - Sinh năm: 1942. Địa chỉ: Tổ dân phố số 3, Thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

2. Ông Vũ Minh D, sinh năm 1949. Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

3. Bà Đào Thị V, sinh năm 1950. Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ông Hoàng Xuân Q, sinh năm 1950. Địa chỉ: Tổ dân phố số 3, Thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 10 phút ngày 03/3/2019 tổ công tác thuộc đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy công an huyện B, tỉnh Lào Cai đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường Q thuộc tổ dân phố số 3, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai phát hiện một người nam giới đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24K9-2526 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra người nam giới khai nhận là Vũ Minh T, sinh ngày 08/02/1981 cư trú tại Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai. Khi bị kiểm tra người đàn ông này tự giác giao nộp một gói nhỏ gói bằng giấy bạc đang cầm trong lòng bàn tay trái cho lực lượng công an. Mở gói giấy bạc ra kiểm tra bên trong có chứa chất bột khô, màu trắng, dạng cục. Vũ Minh T khai nhận gói nhỏ giấy bạc trên là ma túy (Heroine) bản thân vừa đi mua về để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ một gói nhỏ ma túy; 01 xe mô tô nhãn hiệu Jupiter biển kiểm soát 24K9-2526.

Quá trình điều tra Vũ Minh T khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 03/3/2019 Vũ Minh T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24K9-2526 đi từ nhà hàng karaoke P thuộc tổ dân phố P, thị trấn P, huyện B đến nhà bà Đào Thị H (tên thường gọi là P) ở đường Q, thị trấn P để mua Heroine về sử dụng cho bản thân. T điều khiển xe đến trước cửa nhà bà H rồi đi bộ vào trong nhà gặp bà H đang ngồi ở phòng khách. T nói “Bà bán cho cháu 200.000 đồng”, vừa nói T vừa lấy 200.000 đồng đưa cho bà H. Bà H cầm tiền rồi lấy từ trong người ra 01 gói nhỏ bọc bằng giấy bạc đưa cho T. T biết đây là ma túy nên không mở ra kiểm tra và cầm gói nhỏ ma túy trong lòng bàn tay trái đi ra chỗ dựng xe máy để đi về. Khi đi cách nhà bà H khoảng 100m thì bị lực lượng công an yêu cầu dừng xe để kiểm tra, T đã tự giác giao nộp gói ma túy vừa mua và khai báo về hành vi phạm tội của bản thân.

Trên cơ sở lời khai của Vũ Minh T, ngày 03/3/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Thắng đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bà Đào Thị H, nhưng không thu giữ được gì liên quan đến ma túy.

Tại Kết luận giám định số 75/GĐMT ngày 04/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: 0,37 gam chất bột khô vón cục, màu trắng gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.

Cơ quan giám định đã trích mẫu 0,07 gam để giám định, còn lại 0,30 gam được tái niêm phong và hoàn lại cơ quan trưng cầu.

Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 11/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Vũ Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Minh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Trong đó:

Về hình phạt chính: Đề nghị áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Vũ Minh T từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có công việc ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,30 gam Heroine còn lại sau giám định.

Đề nghị tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Vũ Minh T đã thừa nhận do nghiện ma túy nên ngày 03/3/2019 bị cáo đã mua của bà Đào Thị H tên thường gọi là P một gói nhỏ heroine với giá 200.000 đồng mục đích về sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy bị cáo ra về thì bị công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ toàn bộ ma túy. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết pháp luật, bản thân từng được rèn luyện trong quân đội và có thời gian công tác trong lực lượng vũ trang. Song do không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, ham ăn chơi đua đòi nên bị cáo đã nghiện chất ma túy, để có ma túy sử dụng cho bản thân bị cáo đã tàng trữ 0,37 gam Heroine. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xét xử nghiêm minh để răn đe phòng ngừa tội phạm.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi bị bắt và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo còn có bố đẻ là ông Vũ Minh D và mẹ đẻ là bà Đào Thị V được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất. Vì vậy khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về các vấn đề có liên quan trong vụ án:

Liên quan trong vụ án này còn có bà Đào Thị H (tên gọi khác là: P) là người mà bị cáo khai đã bán 0,37 gam Heroine cho bị cáo. Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để điều tra, tuy nhiên, qua đấu tranh bà H không thừa nhận việc bán Heroine cho bị cáo. Ngoài lời khai duy nhất của bị cáo T, không có các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh hành vi mua bán trái phép chất ma túy giữa bà Đào Thị H và bị cáo, nên không có đủ căn cứ để xử lý bà Đào Thị H trước pháp luật.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện chất ma túy, không có việc làm ổn định nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ tổng cộng 0,37 gam Heroine đưa đi giám định, cơ quan giám định đã sử dụng hết 0,07 gam, số còn lại sau giám định là 0,30 gam Heroine, xét thấy đây là vật chứng Nhà nước cấm lưu hành nên cần tuyên tịch thu để tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Jupiter biển kiểm soát 24K9-2526 do bị cáo điều khiển đi mua ma túy. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy này thuộc sở hữu của bố mẹ đẻ bị cáo là ông Vũ Minh D và bà Đào Thị V. Ông D và bà V không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại chiếc xe cho vợ chồng ông Vũ Minh D, xét thấy là đúng pháp luật.

Đến nay ông Vũ Minh D và bà Đào Thị V không có ý kiến gì về tài sản đã nhận lại nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

. Về án phí: Bị cáo Vũ Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo:

Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt chính đối với bị cáo là phù hợp quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và việc tranh tụng tại phiên tòa để quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không đề nghị gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp, đúng với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Vũ Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Vũ Minh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/3/2019.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy 0,30 gam Heroine được niêm phong trong một phong bì thư của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai, mặt trước ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Vũ Minh T có hành vi phạm tội về ma túy phát hiện (thu giữ) ngày 03/3/2019 tại tổ dân phố số 3, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai” mặt sau có chữ ký của các bên tham gia và dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai.

Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu phí, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Minh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Cỡ chữ