vanban.org

Bản án 17/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 06/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thanh S ph m tội “Trộm cắp tài sản”

Tuyên phạt: Bị cáo Đỗ Thanh Sơn 15 (Mười lăm) tháng tù; Thời h n tù tính từ ngày bị bắt 23/11/2018 Ti ch thu: 01(Một) thanh đo n sắt hình T (lo i van tự chế phá khóa) có thanh ngang dài 11,5cm, thanh dọc dài 11cm, mũi dẹp nhọn (chuyển kho Chi cục thi hành án dân sự huyện BB ngày 13/02/2019) tiêu hủy Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thanh S trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thanh S ph m tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Bộ luật tố tụng hình sự T i phiên tòa; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BB
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:17 /2019/HS-ST
Ngày: 06-3-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BB-TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1 Bà Nguy n Thị H nh

2.Ông Nguy n Ngọc Thi

-Thư ký phiên tòa: Bà Minh Thị Thu Hòa–Thư ký Tòa án nhân dân huyện BB, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BB, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Khánh Dung– Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2019, t i trụ sở Tòa án nhân dân huyện BB, tỉnh BìnhThuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2019/TLHS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo

Họ và tên: Đỗ Thanh S(G),sinh ngày 16/3/1991, t i tỉnh Bình Thuận; Hộ khẩu thường trú:Xóm 2, xã Hòa M, huyện P, tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú hiện nay: Xóm 2, xã Hòa M, huyện P, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa: Lớp 3/12;dân tộc:Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không;quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguy n Văn N, sinh năm 1969 và con bà Đỗ Thị G, sinh năm 1972; tiền án: Có 01 tiền án (ngày 31/12/2013 bị Tòa án nhân dân huyện P xử ph t 36 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” và “Lừa đảo chiếm đo t tài sản”t i bản án số 113/2013/HSST, ngày 29/01/206 chấp hành xong hình ph t tù về địa phương nhưng chưa chấp hành xong hình ph t bổ sung nộp sung quỹ nhà nước 850 000đ; tiền sự:Không. Bị cáo bị bắt t m gi ngày 23/11/2018 chuyển t m giam từ ngày 02/12/2018 đến nay (bị cáo có mặt t i phiên tòa)

Người bị h i: Nguy n Nh, sinh năm 1974(có mặt)

Cư trú: tổ dân phố 25, thị trấn C, huyện P, tỉnh Bình Thuận

Người làm chứng: 1/Ph m Thái Tr, sinh năm 1982(vắng mặt)

2/Nguy n Văn T, sinh năm 1982(vắng mặt)

Cùng nơi cư trú: Khu phố A 2, thị trấn L, huyện BB, tỉnh Bình Thuận

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận t i phiên tòa,nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ ngày 23/11/2018 Đỗ Thanh S đi từ nhà lên bến xe buýt đón xe đến thị trấn L, huyện BB,vòng quanh khu vực chợ Chợ L vào cổng Nam chợ tìm tài sản trộm nhưng không có, Đỗ Thanh S vòng ra hướng cổng Bắc chợ thấy trước cổng Bắc có chiếc xe mô tô biển số 49N6-3737, hiệu Yamaha, lo i Sirius màu đen b c đỏ của anh Nguy n Nh, sinh năm 1974 để ở cổng nhưng không có người trông coi Đỗ Thanh S nhìn không thấy ai chú ý nên l i gần xe, S lấy ra một thanh đo n sắt hình T (lo i van tự chế phá khóa) có thanh ngang dài 11,5cm, thanh dọc dài 11cm, mũi dẹp nhọn mang theo trong người, chọc vào ổ khóa xe mô tô biển số 49N6-3737 để mở khóa nổ máy ch y được 05m thì bị mọi người dân phát hiện hô lực lượng tuần tra bắt gi cùng tang vật xe mô tô biển số 49N6-3737 và đưa về trụ sở Công an thị trấn L lập biên bản T i đây, Đỗ Thanh S thừa nhận hành vi lấy trộm xe mô tô biển số 49N6-3737 của anh Nguy n Nh

T i bản kết luận định giá số 59/2018/HĐ ĐG-TTHS ngày 26/11/2018, xe hiệu YAMAHA lo i Sirius có biển số 49N6-3737 mua năm 2007 17 triệu đồng, tỷ lệ sử dụng còn l i 25%, thành tiền 4 250 000đ(Bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng)

ang t h ng án: + Chiếc xe mô tô biển số 49N6-3737 sau khi định giá cơ quan điều tra đã trả l i cho bị h i Nguy n Nh

+ 01(Một) thanh đo n sắt hình T (lo i van tự chế phá khóa) có thanh ngang dài 11,5cm, thanh dọc dài 11cm, mũi dẹp nhọn chuyển kho Chi cục thi hành án dân sự huyện BB ngày 13/02/2019.

trá h nhi m d n : Bị h i Nguy n Nh không yêu cầu gì thêm.

T i cáo tr ng số 10/CT –VKS-BB ngày 31/01/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện BB truy tố bị cáo Đỗ Thanh S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

T i phiên tòa đ i diện VKS thực hành quyền công tố sau khi phân tích hành vi tính chất ph m tội của bị cáo, gi nguyên truy tố bị cáo Đỗ Thanh S theo tội danh và điều khoản mà Viện kiểm sát truy tố, áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo qui định t i điểm s khoản 1 Điều 51; tình tiết tăng nặng “tái ph m” qui định t i điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị Hội đồng xét xử xử ph t bị cáo Đỗ Thanh S từ 09-12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Hình ph t bổ sung: không; Về xử lý tang vật chứng vụ án: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: 01 thanh đo n sắt hình T, có thanh ngang dài 11,5cm, thanh dọc dài 11cm, mũi dẹp nhọn chuyển kho Chi cục thi hành án dân sự huyện BB ngày 13/02/2019 là công cụ phương tiện ph m tội đề nghị tịch thu tiêu hủy; Về trách nhiệm dân sự: bị h i Nguy n Nh đã nhận l i tài sản không yêu cầu bị cáo Đỗ Thanh S bồi thường gì thêm nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa,Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện BB, Điều tra viên, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện BB trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự T i phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Do đó, Hội đồng xét xử đánh giá các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và đúng pháp luật.T i phiên tòa hôm nay vắng mặt người làm chứng Nguy n Văn T và Ph m Thái Tr nhưng Hội đồng xét xử xử vắng mặt ông T và ông Tr là phù hợp qui định t i Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS).

T i phiên tòa hôm nay, sau khi đ i diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BB công bố bản cáo tr ng, bị cáo Đỗ Thanh S đã thừa nhận hành vi ph m tội như cáo tr ng nêu và đối chiếu lời khai của bị cáo t i phiên tòa phù hợp với lời khai của bị h i Nguy n Nh t i phiên tòa và đơn báo mất tài sản ngày 23/11/2018(BL61),kết luận định giá tài sản số 59/2018/HĐĐG-TTHS ngày 26/11/2018,lời khai của người làm Nguy n Văn T, Ph m Thái Tr (BL 68,69,64,65) và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đỗ Thanh S có hành vi lén lút dùng thanh đo n sắt T mở phá khóa xe mô tô biển số 49N6- 3737 của anh Nguy n Nh, nổ máy xe ch y đi mục đích chiếm đo t, trị giá tài sản 4 250 000đ đã ph m vào tội “Trộm cắp tài sản” Tội ph m và hình ph t được qui định t i khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị cáo lợi dụng bị h i để tài sản không người trông coi, đã dùng van phá khóa, lén lút lấy trộm tài sản là xe máy của anh Nguy n Nh. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm ph m đến quyền sở h u tài sản hợp pháp của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an t i địa phương và làm cho người dân hoang mang lo sợ mất tài sản Bị cáo nhận thức được tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ nhưng xem thường pháp luật chỉ vì muốn có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng nên đã thực hiện hành vi ph m tội. Bị cáo đã chuẩn bị sẳn công cụ phá khóa và chọn địa điểm thường có nhiều xe để không người trông coi để thực hiện hành vi trộm cắp chứng tỏ bị cáo đã tính toán trước khi thực hiện

Bản thân bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện P xử về tội “Cướp giật tài sản”và“Lừa đảo chiếm đo t tài sản” chưa xóa án tích nhưng không từ bỏ tính tham lam đã tiếp tục thực hiện hành vi ph m tội Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái ph m” qui định t i điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải t o, giáo dục bị cáo và cũng răn đe phòng ngừa tội ph m khác

T i phiên tòa hôm nay, bị cáo Đỗ Thanh S đã thành khẩn khai báo.Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình ph t cho bị cáo khi lượng hình.

Đối với đề nghị của đ i diện Viện kiểm sát về áp dụng điều luật, tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như biện pháp tư pháp đối với bị cáo Đỗ Thanh S là phù hợp ngh nên chấp nhận Tuy nhiên, mức hình ph t đề nghị đối với bị cáo là chưa tương xứng tính chất hành vi của bị cáo nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét

Về trách nhiệm dân sự: Bị h i Nguy n Nh nhận l i tài sản không yêu cầu bị cáo Đỗ Thanh S bồi thường gì thêm Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm dân sự trong vụ án này.

Về xử lý vật chứng: + Đối với chiếc xe máy biển số 49N6-3737 Cơ quan điều tra đã trả l i cho bị h i Nguy n Nh là đúng qui định pháp luật

+ 01(Một) thanh đo n sắt hình T (lo i van tự chế phá khóa) có thanh ngang dài 11,5cm, thanh dọc dài 11cm, mũi dẹp nhọn (đã chuyển kho Chi cục thi hành án dân sự huyện BB ngày 13/02/2019) là công cụ phương tiện ph m tội không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy là đúng qui định t i điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

Về án phí: Bị cáo Đỗ Thanh S phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo qui định t i Điều 136 BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết 326 của UBTVQH 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 qui định về mức thu,mi n, giảm,thu,nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thanh S ph m tội “Trộm cắp tài sản”

Tuyên phạt: Bị cáo Đỗ Thanh Sơn 15 (Mười lăm) tháng tù; Thời h n tù tính từ ngày bị bắt 23/11/2018

Căn cứ vào: Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Ti ch thu: 01(Một) thanh đo n sắt hình T (lo i van tự chế phá khóa) có thanh ngang dài 11,5cm, thanh dọc dài 11cm, mũi dẹp nhọn (chuyển kho Chi cục thi hành án dân sự huyện BB ngày 13/02/2019) tiêu hủy

Căn cứ vào:Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, mi n,giảm,thu, nộp,quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Buộc Bị cáo Đỗ Thanh S phải nộp 200 000đ tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai có mặt bị cáo, bị h i t i phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm

Cỡ chữ